Mầu nhiệm của sự dữ

Theo cách nhìn hiện đại, giáo điều về tội nguyên tổ có thể mang ý nghĩa gì? Theo tôi hiểu thần học đương thời, giáo điều ấy nói lên bản chất có xã hội tính căn bản của con người và nói lên phương các mà sự tự do của con người bị giới hạn ngay trước khi những hoạt động của nó bởi hệ thống của các mối tương quan đã tạo mỗi con người như một cá nhân. Người ta không còn nói đến “tội nguyên tổ”, nhưng đúng hơn nói đến “tội phổ quát”, nghĩa là nói đến mọi người đều liên đới trong sự dữ.

Mỗi con người đều được tạo dựng nên bằng hàng loạt các mối tương quan xã hội, tất cả các mối tương quan ấy đều chịu ảnh hưởng của sự cạnh tranh, đấu tranh sinh tồn, và bạo lực đã vạch lên những đặc tính của loài người kể từ khi họ xuất hiện trong thế giới thủy tổ súc vật của họ.[5] Trái xa với sự ngây thơ trong trắng đã được tường thuật về vườn địa đàng, thuyết tiến hóa chỉ nguồn gốc chúng ta hướng về một bản chất “răng còn tươi màu máu.” Thật vậy, khoa học đã cho thấy bản chất khát máu đã là đặc tính chung của con người ngay từ thuở ban đầu.
Nhưng như vậy thì, trải qua những phát triển, văn minh, chân dung con người ra sao trong thế giới hôm nay?
Chân dung con người thời đại
Để trả lời câu hỏi trên, xin hãy nghe chính linh mục Latourelle[6] diễn tả rất cụ thể vài nét đặc trưng của con người ngày nay như sau:
- Con người vô tôn giáo hay bất cần tôn giáo
Con người thời đại chia sẻ quan điểm của các triết gia Hegel, Nietzsche, Sartre …khẳng định “Thiên Chúa đã chết”. Nhưng trong thực tế và rất phổ biến, một số đông vẫn còn tin một Thiên Chúa hiện hữu, khi ẩn khi hiện nhưng không còn tác động trên đời sống con người. Hơn nữa, tại sao lại còn mơ ước bánh bởi trời khi bánh ở dưới thế đã quá đủ và quá dư thừa.
- Con người hiềm khích tôn giáo
Thái độ hiềm khích của một số người mà đại đa số là “cựu tín hữu”đối với Kitô giáo trong hình thái lịch sử đã để lại: Kitô giáo là những quốc giáo, độc tài, cấu kết với các thế lực chính trị, tiền bạc. Một tôn giáo với những giáo mác, khí giới và các lời kết án cho những ai không đồng quan điểm. Một tôn giáo trấn áp lương tâm con người bằng sức mạnh và sự đe dọa, sợ hãi hơn bằng tình yêu thương. Một Kitô giáo buồn tẻ, đặt trọng tâm trên tội lỗi và hình phạt. Tôn giáo với bộ hình luật hơn là những phương cách sống. Những cựu Kitô hữu đã vứt bỏ những gánh nặng và những thứ sợ hãi để sống bên lề một Giáo hội cơ chế, không còn quan tâm đến những gì Giáo hội này nghĩ, nói hay làm.
- Con người của vui chơi, giải trí
Phương tiện truyền thông cung cấp những sản phẩm giải trí. Các phương tiện truyền thanh, phim ảnh, báo chí, truyền hình, internet là những tiến bộ khoa học không thể chối cãi được. Nhưng tự chúng mang một mặt trái rất bi thảm trên lương tâm con người. Chúng là những thứ tiêu khiển, giải trí của con người nhưng đồng thời phân hóa[7] con người, ngăn cản con người gặp lại chính mình, trực diện với mình. Xem truyền hình thường trở thành nơi tập họp những người cô đơn ngồi kế cận nhau. Hai tai, hai mắt bị nhồi nhét bởi những quảng cáo, chương trình thể thao, phim truyện. Con người ta không còn suy nghĩ nữa và cùng chạy trốn – chạy trốn chính mình.
- Con người của tiến bộ khoa học kỹ thuật

Tiến bộ của phương tiện truyền thông, hành tinh chúng ta trở thành lồng kính mà mỗi người có thể nhìn thấy nhau. Tôi biết và thấy những gì xảy ra trên thế giới. Vì thế con người ngày nay tỏ ra nhạy cảm với hai hiểm họa của thời đại: chiến tranh và nghèo khổ. Làm sao tránh được hiểm họa chiến tranh khi con người không khống chế được nghèo khổ và hận thù phát sinh từ những bất công xã hội? Làm sao con người có thể quan niệm rằng cứ để hố ngăn cách giữa thiểu số người ăn ngon mặc đẹp với đa số người đói khổ bần cùng mà bạo lực sẽ không bùng nổ? Hành tinh chúng ta sống nằm trong những thiết bị của những hệ thống vũ khí trên đất, dưới biển, trên không? Sự hiện diện của vũ khí chiến tranh làm nảy sinh sự sợ hãi có tầm vóc toàn cầu. Phải chăng đã đến lúc phải nói như triết gia Heidegger: loài người sinh ra cho sự chết? Vì chính khi say sưa với các tiến bộ khoa học thì con người lại cảm thấy thêm lo âu.
- Con người của quảng cáo
Để đạt hiệu quả tốt nhất, các ngành quảng cáo không ngần ngại tìm kiếm những “bí mật” riêng tư của con người bằng cách xâm nhập vào đời tư. Báo chí không ngần ngại gây áp lực trên lương tâm, đi sâu vào đời tư của mỗi người, phô bày những gì là thầm kín riêng tư và như thế dể dàng gây tổn thương, hạ giá và bêu xấu con người.
- Con người của sản xuất
Sản xuất là giá trị đời sống hay nhất, nếu không là tuyệt đối trong xã hội ngày nay. Các chế độ kinh tế đều có cùng một mục tiêu: con người phải là một phương tiện sản xuất có hiệu năng. Giá trị sản xuất và lao động thường được đặt trên cả nhân phẩm một khi con người được đánh giá theo công việc và sản phẩm. Một khi bị đánh giá quá thấp và bị khinh rẻ, con người đó không còn tự do nội tâm.
- Con người của tiêu thụ

Sống trong môi trường ô nhiểm do nguồn quảng cáo ồ ạt thường ngày và ở khắp mọi nơi, con người trở thành con người tiêu thụ. Tự do là tiêu thụ không giới hạn. Phát triển tức là mở rộng thêm thị trường, tăng thêm lợi nhuận, biến mọi nơi trên trái đất này làm trung tâm thương mãi mà cái Tôi là nguyên nhân chính gây nên tình trạng này. Người khác chỉ được xem là một mối lợi nhuận tôi có thể rút tỉa được. Con người tiêu thụ càng nhiều tôi càng thu được nhiều lợi nhuận. Khả năng yêu thương, phục vụ, cảm thông xem như bị hủy diệt trong bối cảnh con người của tiêu thụ này.
- Con người tôn thờ thân xác

Biểu hiện qua các môn thể thao, tôn thờ thân xác được xem như những giá trị tuyệt đối. Quảng cáo tạo nên những nhu cầu giả tạo để con người có khuynh hướng thỏa mãn dể dàng các đam mê: tình dục, thời trang …
Theo Latourelle, ở đây ngài không phê phán giá trị thời đại tốt hơn hay xấu hơn các thời đại khác: “Tôi chỉ nhận diện, phân tích các yếu tố chi phối con người của thế kỷ XXI, và tạo nên cho con người này một bộ mặt, một ngôn ngữ, một não trạng – mặc dầu đôi lúc, con người không hoàn toàn ý thức được.”
Và Latourelle, sau khi phân tách những nét đặc trưng của con người thời đại, ngài nghĩ rằng phải chăng trên đây là những dấu hiệu cho thấy con người thời đại, tuy có vẻ bi quan nhưng họ vẫn còn cởi mở, đang khao khát ơn cứu độ và tình yêu Giêsu như hơn hai ngàn năm trước? Trong lãnh vực đức tin, có một nghịch lý: một bất lợi có thể là một vận may. Có thể, ý thức ra được hay nhìn lại ra được hình ảnh sai lạc của chính mình, con người có cơ hội tìm ra lại hình ảnh trung thực tức là hình ảnh trong Đức Kitô.
Mối quan tâm của thần học Kitô giáo về con người thời đại
Những thập niên vừa qua đã chứng kiến những cố gắng của những nhà thần học tìm cách thay đổi lối diễn tả giáo điều về tội nguyên tổ trong hoàn cảnh cuộc sống bằng một phương pháp được gọi là “situationist” (xin dịch thuyết “hoàn cảnh”).[8] Đối với các nhà thần học này, trọng tâm là hoàn cảnh hiện sinh, vấn nạn “bị tiền định”[9] vô tình thiết lập hay tạo nên mỗi chúng ta, ngay cả trước khi ta thực thi tự do của chính mình. Phương pháp này theo tôi rất phù hợp với việc Kinh Thánh nhấn mạnh tới sự liên đới của con người trong tội lỗi, với sự hiểu biết về tội nguyên tổ như một sự thiếu ơn thánh hóa, dựa vào những giới hạn về sự tự do và hành động luân lý của con người, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của mỗi người trong một thế giới tội lỗi. Tôi có thể minh chứng đặc tính hoàn cảnh tạo nên con người này khi nhìn những đứa trẻ phải lớn lên trong các gia đình bất thường, xã hội không lành mạnh nơi ấy các trẻ em trở thành nạn nhân của những lạm dụng và đối xử thô bạo và từ đó xô đẩy các em vào những băng nhóm. Trong những trường hợp này, không những các em ấy không chỉ làm hại mình mà còn đe dọa đến cuộc sống của người khác. Hoàn cảnh như thế thật rõ ràng giới hạn tự do con người các em triệt để, thúc đẩy tới chỗ làm điều ác không? Các trẻ em đó có phải đã gánh chịu tội và cùng sản sinh ra tội lỗi của thế gian này trong cuộc sống không? Tôi phải trả lời có. Chiến tranh trên quê hương Việt Nam, với hàng triệu người chết. Những mồ chôn sống hàng vạn thân xác trong biến cố tết Mậu Thân tại kinh đô Huế đã đủ cho tôi thấy rằng có một sai lầm thật trầm trọng trong cõi lòng con người.
Từ suy nghĩ trên, tôi tìm thấy được một điểm sáng suốt nổi bật trong quan điểm của thánh Augustinô, đó là lòng con người không chỉ thiếu một cái gì đó mà còn có một sự chống lại (aversion a Deo), không muốn yêu mến Thiên Chúa và một sự đồng tình với sự ác trong kinh nghiệm chấp nhận sự bất lực và tội lỗi của mình. Tất cả cho thấy một nhu cầu thâm sâu của con người là Thiên Chúa cứu độ ta trong Đức Kitô. Nhưng Giêsu cứu tôi bằng cách nào? Đó là một thắc mắc căn bản trong thuyết cứu độ mà tôi muốn suy luận đến.
Cứu độ luận từ trên xuống – Soteriology from above
Theo nền thần học đương thời, thuyết Anselm ngày càng bị coi như không toàn diện. Thánh Anselm tập trung vào cái chết của Đức Kitô hơn là vào toàn bộ cuộc sống và thừa tác vụ (ministry) của Ngài, vì chính toàn bộ mầu nhiệm của Đức Giêsu, sự sống, sự chết và sự sống lại của Ngài mới có tính cứu độ. Thừa tác vụ của Ngài không chỉ việc dâng lễ đền tội mà còn quan tâm tới việc loan báo Nước Trời, việc tự đồng hóa với người nghèo và đau khổ, hay gương sáng về lòng phục vụ nhân từ và yêu thương của Ngài. Kế đến, thuyết làm nguôi giận của Anselm cho thấy một cố gắng làm cứu độ luận “từ trên xuống”. Thuyết ấy đã in dấu trong việc rao giảng nhấn mạnh về cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đòi hỏi con người sửa chữa đến độ che khuất tình yêu và lòng nhân từ của Ngài …hoặc như GH Ratzinger nói: ”đến độ có thể làm cho hình ảnh Ngài xuất hiện một cách độc ác”[10] hay Roger Haight tự hỏi: “Làm sao sự đau khổ và thập giá Chúa Giêsu lại có thể là điều gì đó mà không phải là sự ác được?” (How can the suffering and crucifixion of Jesus be anything but evil?)[11].
Trong thời đại mà sự hiện hữu của quá nhiều đau khổ phi lý, phi nghĩa và sự ác khủng khiếp đang làm cho nhiều người khó có thể tin vào một Thiên Chúa nhân từ và xót thương, thì ý tưởng về một vị Thiên Chúa mà sự công chính của Ngài chỉ có thể được thỏa mãn bằng cái chết của con Một Ngài sẽ chẳng còn mang ý nghĩa gì; ý tưởng nấy là một trở ngại cho đức tin; vì khơi lên sự hẹp hòi của lòng nhân từ Thiên Chúa.
Tuy thế vẫn có nhiều Kitô hữu bám vào cách giải thích của truyền thống Alselm về ơn cứu độ, vẫn tiếp tục bị thấm nhuần giải thích ấy. Giáo lý về sự đền tội thay, đặt trong bối cảnh của thuyết tiền định (predeterminism), cho rằng việc đền tội thay ấy khẳng định rằng công cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu không dành cho hết mọi người mà chỉ cho một số “được tuyển chọn” thôi.
Cứu độ luận từ dưới lên – A Soteriology from Below
Khi nói đến nền thần học về ơn cứu độ không phải từ trên xuống nhưng từ dưới lên, nghĩa là gì? Thần học từ dưới lên khởi đi từ toàn bộ câu chuyện của Đức Giêsu, cuộc sống, thừa tác vụ, cuộc khổ nạn, sự chết và sống lại, và các phong thái của riêng Đức Giêsu. Tôi nghĩ khi tránh những thuyết có tính bản thể học (ontological theories) về ơn cứu độ như thuyết đền tội (atonement), thuyết làm nguôi giận (satisfaction), thuyết thâu họp về một đầu, một mối (recapitulation), hoặc thiên chúa hóa hay thần thoại hóa (divinization) thì sẽ làm cứu độ luận thích hợp hơn với nền văn hóa hiện đại. Tuyên xưng ơn cứu độ có nghĩa rằng tôi bắt đầu kinh nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa và như thế tôi thấy đời mình biến đổi.
Đức Giêsu hiện diện với tôi bằng nhiều cách, không chỉ trong việc cử hành các bí tích, nghe rao giảng Tin Mừng. Tôi không nên làm cho việc đến gần Giêsu trở thành khó khăn đến độ không thể thực hiện được.
Đức Giêsu lịch sử, trong những năm ngắn ngủi, đã trải qua những ngày tháng giảng dạy, chữa lành và hòa giải những con người thật. Ngài công bố sự tha thứ tội lỗi. Ngài tỏ ra đặc biệt quan tâm tới những người bị hất ra bên lề về mặt tôn giáo, những người bị các vị có thẩm quyền coi là ở bên ngoài lề luật. Ngài thường xuyên bị chỉ trích là “kẻ ham mê ăn uống, bạn bè với quân thu thuế và tội lỗi” (Mt 11, 19) vì đã liên kết và chung bàn với họ, như vậy Ngài cho thấy không một ai sẽ bị loại ra khỏi vương quốc Thiên Chúa. Họ là những câu chuyện về ân sủng do Đức Giêsu đem lại. Vì đâu có ân sủng, ở đó có Thiên Chúa. Để nhạo báng vị Thiên Chúa của Kitô hữu thời tiên khởi, người ta vẽ trên một bức tường tại Rôma, một con lừa bị đóng đinh trên thập tự giá. Vì đạo lý mới mẻ này vào thời ấy đã đảo lộn những mốc đã có từ xưa trước: các kẻ tội lỗi đi trước các người công chính; người nghèo khổ, bé mọn sẽ lật nhào những kẻ quyền thế, sang giàu; các đầy tớ được xử đãi ngang hàng với những chủ gia; tình yêu được nối dài tới kẻ thù; sự hiểu biết về Thiên Chúa không dành cho người thông thái; những sự kiện tâm hồn vượt trội các thành tích; Vương quốc được thiết lập trong tình yêu mà không lấy sức mạnh áp đặt…
Vậy Đức Giêsu là ai mà đã đưa ra những thay đổi như thế?
Đức Giêsu: Vị mạc khải nguồn ơn cứu độ
Trên đây là một cố gắng để sơ lược trình bày, trong khuôn khổ một tờ đặc san, cách nhìn hiện đại trong thần học về mầu nhiệm cứu độ. Niềm tin Kitô hữu vào một Đức Giêsu là nguồn cứu độ sẽ không bao ngừng bị chất vấn và thách đố. Điều quan trọng tôi thiết nghĩ là chúng ta phải để ý đến bản chất ngôn ngữ Kitô giáo, việc đan kết những trình thuật và ẩn dụ khác nhau, những hình ảnh có tính thần thoại lẫn cấu trúc thần học của Kinh Thánh, cũng như những mẫu chuyện trình thuật khác nhau được sử dụng để diễn tả đức tin.
Học thuyết tình huống, trong bối cảnh mầu nhiệm của sự dữ, đang được xem như là phương cách hiện đại để giải thích giáo lý về tội nguyên tổ dưới bản chất có tính xã hội triệt để của bản vị con người. Trong một mức độ rất đáng kể, không chỉ bản thân ta mà cả ngay chính sự tự do của ta đều mang dấu ấn của những hoàn cảnh xã hội. Mỗi hoàn cảnh ấy đều đụng tới tội lỗi.
Trong suốt hơn một thiên niên kỷ, mầu nhiệm cứu độ trong Đức Kitô được diễn tả theo thuyết bồi thường của Anselm – cứu độ luận từ trên xuống- đã gây ra nhiều vấn nạn trong phạm vi thần học lẫn mục vụ.

Cứu độ luận từ dưới lên coi Đức Giêsu như một vị mạc khải và gương mẫu của ơn cứu độ của ta. Thập giá của Đức Kitô vẫn luôn là một biểu tượng nổi bật của đức tin Kitô giáo và mầu nhiệm cứu độ. Thập giá hay đúng ra toàn bộ mầu nhiệm khổ nạn đã cho ta thấy Đức Kitô cương quyết từ bỏ đường lối của sự dữ, của tội lỗi, khi phó mình trong tay Abba. Khi dứt khoát không lấy sự dữ đáp lại sự dữ, Ngài đã mạc khải một quyền năng không thống trị. Ngài đã trao ban sự sống của Thiên Chúa. Tình yêu của vị Thiên Chúa này luôn luôn mạnh hơn sự chết. Và nhất là quyền năng của Ngài được mạc khải trong sự yếu hèn. Vì thế, vai trò của Thập giá trong đời sống tâm linh Kitô giáo sẽ là mối quan tâm chính của bất cứ một khoa cứu độ luận nào.
Tin mừng theo thánh Mác-cô, tin mừng được viết đầu tiên, không tường thuật sự kiện Giáng sinh mà chỉ khẳng định ngay trong câu đầu tiên, cốt lũy của ơn cứu độ, đó là “Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã mang lại” (Mc 1,1). Hay nói cách khác: Đức Giêsu vừa là Sự Thật của Thiên Chúa đang tìm kiếm con người, vừa là Sự Thật của những con người được Thiên Chúa kêu gọi.
Nguyễn Duy Vũ
(Sydney,
mùa vọng 2018)
[1] Original sin: Tội mà tổ tông loài người đã phạm và có ảnh hưởng tới con người mọi nơi mọi thời. Xim xem Catechism of the Catholic Church, đoạn 401.
[2] Soteriology: Môn thần học về công trình cứu thế của Đức Kitô.
[3] The satisfaction theory of atonement is a theory in Christian theology that Jesus Christ suffered crucifixion as a substitute for human sin, satisfying God’s just wrath against humankind’s transgression. The theory draws primarily from the works of Anselm of Canterbury. Thuyết Bồi thường luận (thỏa giận) về mầu nhiệm cứu chuộc là một thuyết Thần học Kitô giáo cho rằng Đức Giêsu Kitô chịu khổ hình trên thánh giá là để chuộc tội cho nhân loại, để thỏa cơn giận của Thiên Chúa vì những xúc phạm của loài người. Giáo thuyết này xuất phát chủ yếu từ những suy tưởng của Thánh Alselm thành Canterbury (1033-1109). Ngài cho rằng: “Tội con người xúc phạm Thiên Chúa Chí Tôn vô hạn thì không thể đền bù lại được, song chỉ nhờ việc đền bồi vô hạn của Thiên Chúa giáng trần, mới được hồi phục được trật tự do tội lỗi con người phá hoại trước kia.” (Nguồn: Tự Điển Thần Học Tín Lý Anh Việt – Nhóm Phiên Dịch Tu Sĩ Việt Nam Tại Đài Loan Thực Hiện 1996, trang 222)
[4] Cur Deus Homo?, or Why Did God Become Man?
[5] Xim xem Brian O. McDermott, “The Theology of Original Sin: Recent Developments” Theological Studies 38 (1977) 478-512.
[6] René Latourelle, S.J., “Man and His Problems in the light of Jesus Christ” – Con người và các vấn nạn của con người trong ánh sáng Đức Kitô. Nguyên bản pháp ngữ: L’homme et ses problèmes dans la lumière du Christ -” (New York: Alba House,1983) 3-10.
[7] “Divert” hay “divertir” theo nghĩa của Pascal.
[8] Xin đọc những tác phẩm của các nhà thần học thời đại nổi tiếng như Piet Schoonenberg, Karl Rahner và Karl-Heinz.
[9] “being-situated”.
[10] “… that make the image of God appear in a sinister light”.
Joseph Ratzinger, Introduction to Christianity (New York: Herder and Herder, 1971) 174.
[11] Roger Haight, Jesus: Symbol of God (Maryknoll, N. Y.: Orbis, 1999) 345.
