Author Archives: Vũ Thiên Lý

Cần có “đức tin” để hiểu Thiên Chúa đã cho Ngài trỗi dậy từ cõi chết.

Tại sao Chúa Giêsu phục sinh không tỏ mình ra cho các đối thủ của Ngài, cho các thượng tế hay các thành viên Thượng Hội Đồng Do Thái hoặc cho Philatô? Hiện ra cho các người ấy chắc sẽ có kết quả nhiều hơn sao? Sao Ngài chỉ hiện ra cho bạn bè và những người theo Ngài thôi?

Đọc kỹ các câu chuyện về sự Phục Sinh chúng ta thấy rằng kinh nghiệm về sự Phục Sinh của các môn đệ không lấy mất sự tự do của họ hoặc không ép họ phải tin. Trong tất cả các câu chuyện về việc hiện ra, bao giờ chúng ta cũng nhận thấy những nhấn mạnh đến việc lúc đầu không nhận ra, hoang mang, nghi ngờ và sợ hãi của họ. Trong đoạn kết Tin Mừng Máccô nguyên thủy, các bà “chạy trốn khỏi mộ, run cầm cập, thất kinh hồn vía” (Mc 16,8). Các môn đệ nghi ngờ chuyện cùa Maria Magdala và các phụ nữ (Lc 24, 9-11). Hai môn đệ trên đường Emmaus không nhận ra Chúa Giêsu và Ngài phải giảng dạy khi chia sẻ bữa ăn với họ (Lc 24, 13-35). Khi họ nhận ra Ngài, thì Ngài lại biến mất. Nhóm mười một và những người khác tập trung tại Giêrusalem “ngạc nhiên và hốt hoảng, nghĩ rằng họ trông thấy ma” khi Chúa Giêsu hiện ra (Lc 24, 37); Ngài đã đưa họ tới với niềm tin (Lc 24, 38-42). Ngay cả Maria Magdala, người đã yêu mến Chúa Giêsu, vẫn không nhận ra Ngài (Ga 21, 4) và Tôma không thể tin nếu không có bằng chứng cụ thể (Ga 20, 25). Trong phần phụ lục của Tin Mừng Gioan, các môn đệ không nhận ra Ngài đứng trên bờ (Ga 21, 4). Một bản văn rất hay, chuyện Chúa Giêsu hiện ra cho mười một môn đệ trên một ngọn núi tại Galilê của Mátthêu, kể lại rằng: “Khi thấy Ngài, họ bái lạy Ngài, nhưng một số vẫn hoài nghi” (Mt 27, 17, NRSV). Phê bình đoạn văn trên, Kenan Osbone nói rằng theo Tân Ước, “niềm tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu không phải là một vấn đề dễ dàng, cả nơi các môn đệ lẫn các cộng đoàn tin vào Chúa Giêsu” [1].

Hiệu quả tích lũy của những câu chuyện ấy là gợi lên rằng việc đến với lòng tin vào sự sống mới của Chúa Giêsu nơi các môn đệ là một tiến trình từ từ chứ không phải là một sự nhận ra được ngay, không phải là một niềm tin bị ép buộc. Kinh nghiệm ấy không áp đảo họ, không lấy đi sự tự do của họ. Dường như Chúa Giêsu đã đưa họ tới với đức tin, hệt như trong thừa tác vụ của Ngài, Ngài vẫn cứ liên tục nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức tin; nơi nào thiếu đức tin, nơi đó Ngài không thể làm được phép lạ (Mc 6,5). Ngài mạc khải mình cho những kẻ thuộc về Ngài; họ phải để cho ân sủng đưa dẫn họ tới đức tin.

Thật vậy, Chúa Giêsu phục sinh đã mạc khải mình cho các bạn hữu và các môn đệ Ngài, cho những người yêu mến Ngài và đã mở lòng họ ra cho Ngài, cho những ai có một mối quan hệ nào đó với Ngài. Nói cách khác, Ngài đã hiện ra cho những ai có “đức tin” theo ý nghĩa căn bản của nó như một sự mở ra cho Thiên Chúa, tuy chỉ phần nào thôi. Và họ phải đáp lại trong đức tin. Những ai khép lòng lại, sẽ không thể nhận ra Đức Chúa Giêsu phục sinh; Ngài không thể hiện ra cho họ được.

(Phục Sinh 2019)

[1] Kenan B. Osbone, The Resurrection of Jesus: New Considerations for Its Theological Interpretation (New York: Paulist, 1997) 55.

Những câu chuyện về Phục Sinh trong các Tin Mừng

Những câu chuyện về biến cố Phục Sinh phát triễn muộn màng trong truyền thống Kitô giáo tiên khởi. Những câu chuyện được viết trong các Tin Mừng hoàn toàn khác nhau. Nếu những bản văn về lời rao giảng tiên khởi chỉ đưa ra những tuyên bố ngắn gọn về đức tin, thì các câu chuyện về Phục Sinh lại là những tường thuật đầy ấn tượng, giàu tính tưởng tượng. Những tường thuật này được hoàn tất với những cuộc đối thoại và chi tiết sống động về những con người, nơi chốn và hoàn cảnh. Có hai loại chuyện về Phục Sinh, những chuyện nói về việc khám phá ngôi mộ trống và những chuyện tường trình Chúa Giêsu hiện ra. Đây là sự xuất phát từ những truyền thống cách biệt nhau từ nguyên thủy, truyền thống về ngôi mộ trống bắt nguồn tại Giêrusalem, còn truyền thống về việc hiện ra có lẽ từ Galilê, mặc dù hai truyền thống này dường như thường đan kết với nhau. Hai truyền thống ấy không phải lúc nào cũng đồng ý với nhau trong các khía cạnh về lời rao giảng Phục Sinh. Ví dụ, các phụ nữ, nhất là Maria Magdala chỉ đóng một vai trò quan trọng trong một số chuyện thôi.

Máccô 16, 1-8 tường thuật chuyện Phục Sinh cổ xưa nhất khi rất thú vị ghi nhận rằng chỉ riêng Tin Mừng đầu tiên này đề cập ̣đến việc khám phá ra ngôi mộ trống thôi; không có chuyện hiện ra, dù trong đọan văn ấy có cho thấy việc Chúa Giêsu sẽ hiện ra với các môn đệ tại Galilê. Các phụ nữ viếng mộ tại Giê-ru-sa-lem ở đó gặp được một chàng thanh niên bảo họ rằng: “Hãy đi và báo tin cho các môn đệ và Phêrô, Ngài sẽ đến Galilê trước các ông” (Mc 16, 7). Theo Kasper, truyền thống về ngôi mộ trống là một truyền thống cổ xưa nhưng không phải là một trình thuật có tính lịch sử về sự kiện khám phá ra ngôi mộ trống; bản văn này là một tường trình để làm nền tảng cho các nghi lễ thờ phượng được cộng đoàn Kitô hữu tại Giê-ru-sa-lem sử dụng để tôn kính ngôi mộ của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản chất của việc thờ phượng này vẫn không hàm ý rằng đằng sau truyền thống này không có một lịch sử nào cả. Vì nếu ngôi mộ đã không phải là trống thì một truyền thống nào đó mừng kính ngôi mộ ấy sẽ vô nghĩa [1]. Những phụ lục của Máccô tóm tắt một số câu chuyện từ các Tin Mừng khác phản ảnh những truyền thống tìm được trong Luca 24 và có lẽ cũng chịu ảnh hưởng của Gioan 20.

Tin mừng Mátthêu mở rộng ra từ Tin Mừng Máccô. Tin mừng này bao gồm câu chuyện về việc Chúa Giêsu hiện ra cho các phụ nữ trên đường từ mộ về nhà, một câu chuyện về ngôi mộ trống khác có liên quan tới việc hối lộ các lính canh và việc hiện ra cho mười một môn đệ trên một ngọn núi tại Galilê.

Luca, vì muốn xây dựng một tác phẩm văn chương và thần học bao gồm hai tập, đã thay đổi địa điểm những lần hiện ra tại Galilê thành Giêrusalem và những bối cảnh của Giêrusalem. Những lần hiện ra trong Luca có các bà đi viếng mộ, thêm chi tiết Phêrô chạy ra mộ (Lc 24, 12), chuyện hai môn đệ trên đường Emmau, một lần hiện ra cho mười một môn đệ và những người khác đang họp mặt tại Giêrusalem, và một tường thuật ngắn về việc lên trời.

Tường thuật của thánh Gioan khác hẳn với các tin mừng Nhất Lãm. Chương 20 được dựng lên tại Giêrusalem với những mẫu chuyện: Maria khám phá ngôi mộ trống, Phêrô và Gioan có mặt tại mộ, một lần hiện ra cho Maria Magdala và hai lần hiện ra cho các môn đệ, một lần Tôma vắng mặt. Chương 21, một phụ lục được thêm sau này, được bố trí tại Galilê, dường như độc lập với các chương trước. Đây là chuyện về một lần hiện ra Chúa Giêsu cho bảy môn đệ đang lưới cá và bao gồm cả phép lạ cá, việc phục hồi của Phêrô sau khi ông chối Chúa và một truyền thống về Môn Đệ Yêu Dấu.

Đọc kỹ những câu chuyện Phục Sinh chúng ta thấy rõ ràng các câu chuyện ấy đã không ăn khớp nhau. Có những khác biệt về những phụ nữ đã đi ra mộ, có bao thanh niên ở mộ, những lần hiện ra xảy ra tại đâu, và ai là người đầu tiên được Chúa Giêsu hiện ra, Phêrô hay Maria Magdala. Nhiều học giả cho thấy rằng hai truyền thống về việc hiện ra, Galilê và Giêrusalem, không hề biết lẫn nhau. Luca và Máccô nguyên thủy không quan tâm đến lần hiện ra cho các phụ nữ trước khi hiện ra cho các môn đệ. Nhưng tất cả điều đó không quan trọng; không thành vấn đề. Đó không phải những tường thuật lịch sữ về việc các môn đệ gặp gỡ Chúa Giêsu sau khi Ngài chết mà chỉ là những câu chuyện, những bằng chứng cho lòng tin vào sự Phục Sinh của họ, được viết ra để người khác cũng có được lòng tin ấy (x. Ga 20, 31). Roger Haight quả đúng khi nhấn mạnh đến phép loại suy tư giữa việc các môn đệ đến với đức tin vào sự Phục Sinh và đức tin của chúng ta [2]. Như thế những câu chuyện Phục Sinh là những suy tư có tính thần học cao về kinh nghiệm về sự Phục Sinh của các môn đệ, mục đích của các câu chuyện ấy có tính Tin Mừng.

[1] Kasper, Jesus the Christ, 127

[2] Haight, Jesus: Symbol of God, 128-29.

Phần tới: Những Suy Tư về những câu chuyện này muốn nói gì với chúng ta ngày nay.

Đằng sau cái chết của Chúa Giêsu

Tại sao Chúa Giêsu bị hành quyết? Hầu hết các học giả ngày nay đều tin rằng hành động của Ngài trong Đền Thờ là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của Ngài. Hành động Ngài làm vượt ra xa ngoài việc chống lại những người buôn bán và đổi tiền rất nhiều; đây là một hành động có tính biểu tượng, một dấu chỉ tiên tri cho rằng chính ngôi Đền Thờ sẽ bị phá hủy. Trong khi chúng ta không thể chắc chắn rằng lời Chúa Giêsu nói về việc phá hủy này có bị đưa ra trưng dẫn tại phiên tòa xét xử Ngài trước Thượng Hội Đồng Do Thái chăng, thì điều Ngài đã tuyên bố đã được nhắc nhở lại vì đó đóng một vai trò trung tâm dẫn đến cái chết của Ngài.

Cái chết của Ngài khiến các môn đệ bàng hoàng và tan nát. Trong giai đoạn hậu Phục Sinh, họ tìm cách dùng cái chết của Ngài trở nên có ý nghĩa bằng cách dựa vào những động cơ và những khuôn mặt có tính biểu tượng trong Kinh Thánh. Từ truyền thống tiên tri xuất hiện ra một hình ảnh vị tiên tri bị ruồng bỏ. Truyền thống Khôn Ngoan góp vào một hình ảnh người công chính đau thương bị kẻ gian ác bách hại nhưng vẫn hướng về Đấng Giavê để mong được minh oan. Những hình ảnh này phát triển thật sớm nhưng không có hình ảnh nào gán cho cái chết Chúa Giêsu một ý nghĩa cứu độ cả.

Một truyền thống phức tạp khác, trước cả thánh Phaolô và các Tin Mừng Nhất Lãm giải thích cái chết Chúa Giêsu theo nhãn giới cứu độ luận; Ngài chết “cho ta”, “vì tội lỗi ta”. Nhưng một truyền thống khác lại coi Chúa Giêsu như “tảng đá bị người thợ xây loại bỏ”. Ở đây trong tiếng Hebrew, có sự chơi chữ “con” ( ben) và “tảng đá” (eben), người con bị loại bỏ trở nên nền tảng mới dân Thiên Chúa (Mc 12, 10) trong khi chính dân chúng lại trở nên Đền Thờ mới được xây dựng trên những tảng đá sống động (1 Pr 2, 7).

Cuối cùng, khi khơi lên vấn nạn Chúa Giêsu như thế nào về cái chết của Ngài, người ta đã tìm được một số bản văn nói về Chúa Giêsu như “tôi tớ” bắt nguồn từ trong truyền thống Bữa Tiệc Ly. Khảo sát kỹ hơn về bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ cho thấy rằng Ngài coi cái chết của Ngài, một cái chết Ngài tự do chất nhận, như một phần của cuộc sống và thừa tác vụ của Ngài. Đây không đồng nghĩa với việc gán cho bản thân cái chết của Ngài, hiệu quả cứu độ. Nhưng rõ ràng là dù thất bại, cái chết của Ngài dường như vẫn cho thấy, Ngài đã ban cho các môn đệ một sự hiệp thông mới với Ngài bên kia cái chết. Như thế, Ngài chết, không thất vọng, nhưng tin tưởng rằng Thiên Chúa mà Ngài gọi là Abba, sẽ một cách nào đó minh oan cho Ngài, tin tưởng sứ vụ của Ngài không kết thúc trong thất vọng.

Giáng Sinh: tôi suy luận về Ơn Cứu Độ

Cur Deus Homo?, Why Did God Become Man?, Sao Thiên Chúa làm người?

(Bài này đã ̣được đăng trên Duc In Altum số 104)

Tội nguyên tổ[1]cứu độ luận[2] theo tôi có lẽ được coi như hai giáo lý trung tâm của đức tin Kitô giáo. Nhưng ngày nay, khi diễn tả truyền thống tội nguyên tổ và ơn cứu độ thì tôi cảm thấy tự chúng đã gây nên những trở ngại lớn đối với đức tin cho một số người, nhất là giới mang nặng đầu óc lý luận. Làm sao tin được về một vườn địa đàng nào đó nơi cặp vợ chồng đầu tiên sa ngã vào một lỗi nhỏ, vì xét cho cùng khiếm khuyết của họ chẳng đến nỗi gì trầm trọng so với tiêu chuẩn đạo đức ngày nay. Thế mà con cháu họ, muôn kiếp phải gánh chịu hậu quả. Chúng ta có thể nào chấp nhận rằng Thiên Chúa bắt con cái phải gánh nhận tội lỗi của cha mẹ? Trong những khám phá khoa học gần đây, luật Tiến hóa đã gạt bỏ dể dàng huyền thoại vườn địa đàng, trong khi Sinh vật học làm câu chuyện cặp cha mẹ đầu tiên đó trở thành vô lý. Thêm nữa, làm sao cắt nghĩa được sự dữ phát sinh lên từ một vũ trụ huyền diệu do chính bàn tay nhân lành của Thiên Chúa quyền năng đã sáng tạo cùng với tình yêu hai người ấy. Rồi tôi phải hiểu sao về thuyết thần học Bồi thường luận hay (thuyết làm thỏa giận)[3] của thánh Anselm của thành Canterbury[4], một nền thần học đã chi phối cứu độ luận nơi phương Tây suốt hơn một ngàn năm? Làm sao ai có thể tin vào một Thiên Chúa như thể người cha nhẩn tâm đem con độc nhất của Ngài chịu khổ hình, thể xác đau đớn khi bị đóng đinh trên thập giá như là giá trả cho ơn cứu độ nhân loại? Có cần phải xử dụng ngững ngôn từ có tính mua bán, đổi chác như: làm nguôi giận, bù hoàn, đền tội, thế chổ cho ta, mang lấy cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, trở thành tội lỗi, hiến mình làm của lễ hy sinh… để diễn tả mầu nhiệm cứu độ Thiên Chúa dành cho chúng ta trong Đức Giêsu không? Những ngôn ngữ này có còn tác dụng gì với những người đương thời nữa không?

Trước khi bước vào những cố gắng để diễn tả mầu nhiệm tội lỗi và ơn cứu độ theo những suy nghĩ đương thời, tôi đã tự nhắc mình rằng đức tin Kitô giáo phát xuất từ những tường thuật hoặc những “câu chuyện” của các tín hữu tiên khởi khi họ được trải nghiệm về ơn cứu độ của Thiên Chúa trong những kinh nghiệm của họ về Đức Giêsu khi Ngài sống giữa họ. Các tín hữu ấy đã dùng những hình ảnh, những ẩn dụ và những câu chuyện về truyền thống tôn giáo, kinh thánh Do Thái. Như thế, ngôn ngữ thần học đầu tiên là ngôn ngữ của Tân Ước, một tổng hợp hầu như không thể phân biệt được giữa những câu chuyện, ẩn dụ, thần thoại, và mô hình thần học. Mặc dầu tôi không nhất thiết phải gắn bó với tất cả những quan điểm của thời hậu hiện đại, nhưng nghĩ rằng sẽ rất có lợi khi tôi phân biệt được đâu là những giải thích thần thoại, đâu là những giải thích siêu hình và cái gì đúng với lịch sử.

What’s John Hick’s ‘soul-making’ theodicy? Does it succeed in answering the ‘evidential’ problem of evil?

In his book ‘Evil and the God Love’, John Hick proposes a paradigm that seeks to justify the existence of evil by proving that it is required for the process of soul-making. He claims, “human goodness slowly built up through personal histories of moral effort has a value in the eyes of the Creator which justifies even the long travail of the soul-making process.”[1]Evil, then, has constructive, productive, and positive value: it ultimately benefits each person by enabling human character to develop into divine likeness. This paper is to analyse the formation and theological cogency of Hick’s soul-making theodicy (hereafter SMT).

Hick’s rejection of the Free Will Defence

For centuries, the Free will defence (hereafter FWD) was the central premise through which theologians reflected on the problem of evil. In his SMT, Hick explicitly rejects the “creation-fall myth”[2] since the FWD’s “entrenched” view conflicts with contemporary science and intellectual sensibilities.[3]