Đức Giêsu Lịch Sử

CƠ SỞ LÝ LUẬN
Kitô giáo là một tôn giáo lịch sử theo nghĩa là được thành lập trên một nhân vật lịch sử, Đức Giêsu của thành Nazareth. Sự tiếp cận của chúng ta với Chúa Giêsu lịch sử chủ yếu thông qua các Tin mừng làm chứng cho sự sống, sứ vụ, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Mối quan tâm của các tác giả Tin Mừng là làm chứng cho đức tin của họ vào Chúa Giêsu, tức là sự mặc khải của Thiên Chúa ở giữa họ. Mặc khải như vậy không bao giờ đánh mất hiện thực rằng Chúa Giêsu Kitô phục sinh cùng là một Chúa Giêsu lịch sử được sinh ra ở Betlehem, đã đi rao giảng khắp vùng Galilê và cuối cùng bị tử hình chịu đóng đinh trên cây thập tự tại Jerusalem. Đây là đức tin của các cộng đồng Kitô giáo sơ khai vì nó đã tiếp tục truyền cảm hứng cho đức tin của các Kitô hữu trong mọi thời đại bao gồm cả sự đổi mới của Giáo hội trong thời đại của chúng ta.
Do đó, kiến ​​thức về con người và lịch sử của Chúa Giêsu rất quan trọng đối với những người muốn đào sâu đức tin và sự quyết tâm thực hành đời sống Kitô hữu của họ. Khi chỉ cho chúng ta con đường đến với Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng chỉ cho chúng ta con đường trở thành con người vì Chúa Giêsu là người mà tất cả các giá trị của con người tìm thấy biểu hiện chân thực nhất và ý nghĩa sâu sắc nhất nơi Ngài. Thiết nghĩ giáo lý Kitô giáo cần liên tục hướng đến các Tin mừng, với sự trợ giúp của các nhà chuyên môn nghiên cứu Kinh thánh đương đại, để làm sâu sắc hơn sự đánh giá của họ về cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu. Nghiên cứu Kinh thánh phải luôn luôn được bổ sung bằng suy tư cầu nguyện để sự hiểu biết của Chúa Giêsu về lịch sử được diễn ra trong bối cảnh mối quan hệ cùng phát triển với Chúa Giêsu phục sinh.

Phần 1 – Bối Cảnh Do Thái thời Chúa Giêsu

Tỉnh Judea ở thế kỷ thứ nhất: Trước khi bắt đầu tìm hiểu về cuộc đời và sứ vụ Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thừa nhận tầm quan trọng của lịch sử để cố gắng làm quen với  các khung cảnh thế giới nơi xưa kia Chúa Giêsu đã sống. Xã hội, chính trị, kinh tế, tôn giáo và địa lý của không gian và thời gian lúc đó chắc chắn là những yếu tố đã định hình cuộc đời Chúa Giêsu giống như chúng cũng đang định hình cuộc sống của tất cả chúng ta bây giờ. Kiến thức này sẽ cung cấp cho chúng ta một điều kiện cần thiết để bắt đầu việc tìm hiểu cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu lịch sử.

—————————————–

  • Dẫn Nhập
  • Cuộc sống ở Galilê
  • Jerusalem
  • Xã hội & Chính trị

Dẫn Nhập

Chúa Giêsu là người Do Thái, gốc Palestine. Ngài đã lớn lên với những câu chuyện về những cuộc  chinh phục và đàn áp. Những câu chuyện kể lại nhiều đợt xâm lăng của các nước láng giềng để tìm cách khuất phục dân Do Thái. Đế quốc La Mã chiếm đóng Israel (63 BCE.) là giai đoạn cuối cùng của một chuỗi dài các cuộc xâm lược, bắt đầu từ người Babylon (539 BCE), sau đó là người Ba Tư rồi đến người Hy Lạp. Bản sắc dân tộc Do Thái dựa trên những câu chuyện của các Tổ phụ họ – Abraham, Isaac và Jacob – cũng như câu chuyện lịch sử cốt lũy nhất khi Môi-se lãnh đạo giải phóng họ thoát khỏi ách nô lệ của người Ai Cập trong cuộc Xuất hành. Thêm vào đó là những sử tích kể lại sự tự trị thành công dưới thời các vua Do Thái Saul, David và Solomon. Tuy nhiên sau cùng lịch sử lại kết luận rằng người Do Thái thường là những nạn nhân bên phe chiến bại hơn là những người chiến thắng trong những cuộc chiến gìn giữ chủ quyền quốc gia họ.

Bản sắc DoThái tuy thế vẫn được duy trì – như với hầu hết các dân tộc bị áp bức- bởi một niềm tin tâm linh sâu sắc. Niềm tin này đã được thể hiện qua một Giao ước thần học: niềm tin mà Đức Giê-hô-va (Yaweh) đã chọn họ đóng một vai trò duy nhất trong lịch sử loài người. Cụ thể lúc ấy, người Do Thái đang nôn nóng chờ đợi xuất hiện một Đấng Thiên Sai, người mà họ tin rằng sẽ cho phép họ hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng này. Dù sao cũng đã có những hiểu biết khác nhau về sứ mạng và vai trò của Đấng Thiên Sai họ đang mong đợi. Từ việc thành lập một vương quốc chính trị Do Thái tại đây trên trái đất này hay cho tới một khái niệm cánh chung của một vương quốc thiên đàng ở ngày tận thế (điều mà nhiều người Do Thái coi là một thần học cốt lũy chính yếu của niềm tin). Nói cách khác tôn giáo và chính trị đã hòa quyện sâu sắc trong đức tin và tâm huyết người Do Thái thời ấy.

Vào thời điểm Chúa Giêsu chào đời, Người La Mã đã thiết lập một hệ thống chính quyền bao gồm các trấn giám La Mã và các nhà lãnh đạo Do Thái, là những người đại điện Rome trực tiếp kiểm soát xứ sở này. Đây là hệ thống quyền lực trong đó gia đình của Herod Đại đế đã được giao phó rất nổi bật trong lịch sử. Mặc dù gốc gác ông ta chỉ một nửa là người Do Thái, gia đình Herodian đã bị gièm pha bởi dân Do Thái vì sự cai trị chuyên chế và cũng vì vai trò chính của họ trong việc bán sạch những nguồn di sản Do Thái cho một cường quốc nước ngoài. Một trong những con trai của Herod, Archelaus, vì quá tàn bạo trong việc thực thi quyền lực ở Jerusalem đến nỗi buộc Rome phải thay thế ông bằng một trong những thống đốc của họ, Pontius Pilate, người đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tuyên án đóng đinh Chúa Giêsu. Còn người con trai khác, Herod Antipas, chịu trách nhiệm về quyết định chặt đầu thánh John Báp-tít. Đó chính là cùng một Antipas mà mọi người đã được biết đến qua sự chế giễu của ông đối với Chúa Giêsu tại phiên tòa trước khi Ngài chịu đóng đinh.

Chúa Giêsu là người Nazarene. Ngài sống phần lớn cuộc đời ở thị trấn Nazareth trong tỉnh Galilee. Mặc dù là một ngôi làng nhỏ,Nazareth gần các trung tâm đô thị lớn như Tiberias và Sepphoris. Tuy không giống như những thành phố này vì chủ yếu những nơi ấy người ngoại bang (không phải Do Thái) cư ngụ, Nazareth là nơi tụ tập đa số người gốc DoThái. Thị trấn này cũng tương đối nghèo và rất đông dân; thêm vào đó là một vùng khan hiếm tài nguyên thiên nhiên như nước và đất màu mỡ. Trong tình huống đó, có những xu hướng dễ dàng gây nên bệnh tật và truyền nhiễm. Tuy nhiên, Nazareth không thể được gọi là vùng nghèo khổ. Chúa Giêsu đến từ một gia đình thợ thủ công hoặc thợ mộc cho thấy Ngài thuộc vào một tầng lớp trung lưu trong xã hội, có mức sống kinh tế phải chăng.

Cuộc sống ở Galilê

Giáo dục được xem là ưu tiên hàng đầu của người Do Thái. Chúa Giêsu chắc hẳn đã học được Kinh thánh tại trường làng (cho đến khi mười hai tuổi) và tại hội đường địa phương. Vì có những câu chuyện đã đề cập đến kiến thức Jesus về tiếng Hebrew của Do Thái (ngôn ngữ của Kinh thánh) và tiếng Aramaic (ngôn ngữ đã được xử dụng trong các buổi thảo luận tôn giáo). Đó cũng là thời mà phong tục Do Thái khuyến khích các thanh niên tìm cách gắn bó với một thầy giáo địa phương hay một bậc hiền nhân nào đó. Mặc dù chúng ta biết rất ít về cuộc sống trưởng thành của Chúa Giêsu, nhưng chúng ta được biết rằng cuối cùng Ngài đã chọn trở thành một môn đệ của John the Baptist. Có thể qủa quyết chắc rằng khi tới thời điểm ‘sứ vụ công khai’ của mình, Chúa Giêsu đã rất thành thạo Kinh thánh và truyền thống Do Thái. Điều này cho thấy rằng Ngài đã dành nhiều năm học hỏi, thảo luận về đức tin và truyền thống Do Thái của Ngài.

Jerusalem

Jerusalem là trung tâm thế giới của dân Do Thái. Người nam Do Thái buộc phải hành hương đến đền thờ Jerusalem cho ba dịp lễ chính của Do Thái: Vượt qua, Ngũ tuần và Đền tạm. Tuy nhiên, đi bộ từ Nazareth tới Jerusalem là một hành trình có thể mất từ bốn đến năm ngày (khoảng một trăm năm chục cây số), nên không chắc rằng Chúa Giêsu thực hiện chuyến đi này thường xuyên. Tin Mừng cho chúng ta biết rằng Ngài đã đi với gia đình khi ở tuổi mười hai.Ngài cũng đến thăm Jerusalem trong cuộc sứ vụ công khai của mình (một hoặc ba lần tùy thuộc vào Sách Phúc Âm). Trong một lần đến đền thờ, người ta đã ghi nhận một sự kiện quan trọng khi Chúa Giêsu đã phản ứng có phần nào bạo lực với những người đang sử dụng đền thờ cho mục đích thương mại. Rất có thể vì hành vi này của Chúa Giêsu đã gây liên quan đến phiên tòa xét xử Ngài để cuối cùng dẫn đến cuộc hành quyết. Quan tâm tới thực tế lịch sử hơn là ngôi đền thờ này đã bị người La Mã phá hủy vào năm 70 CE trong cuộc nổi dậy của người Do Thái.

Xã hội và chính trị

Do Thái giáo vào thời Chúa Giêsu là một hỗn hợp phức tạp trong một xã hội có nhiều điểm khác nhau về những ý hệ tư tưởng, chính trị và tôn giáo. Nói chung, chúng ta có thể nói về bốn phong trào đặc trưng,những ý thức hệ hay những lối sống. Vì rất hữu ích khi đặt Chúa Giêsu vào các nhóm trong xã hội thời đại của Ngài để chúng ta có thể đánh giá được những nét đặc sắc và khác biệt trong cuộc sống và sứ mệnh Ngài.

Phong trào Zealot chọn xu hướng cách mạng. Nhóm này ủng hộ việc sử dụng bạo lực bên ngoài, thậm chí hô hào nổi loạn dùng vũ trang, để giải phóng Do Thái ra khỏi cảnh áp bức của La Mã. Vì theo họ nghĩ, không còn cách lựa chọn nào khác để mang đến sự giải phóng cuối cùng cho người Do Thái. Dựa vào quan điểm này, Zealots đã được coi như là những người đấu tranh tự do hoặc nhóm khủng bố. Chúng ta có so sánh họ như phong trào vũ trang “Việt Minh” trong những nổi dậy chống chính quyền đô hộ Pháp trong cuộc chiến tranh giành độc lập tại Việt Nam. Chắc chắn, Chúa Giêsu đã có cảm tình nào đó với nhóm này khi nhìn qua những người theo Ngài, ví dụ ‘Simon Zealot’. Hơn nữa, Chúa Giêsu đã gây nên những xung đột với đền thờ Do Thái và cả nhà nước La Mã. Cuối cùng, Ngài bị xử tử như một người cách mạng bạo lực zealot. Tuy nhiên, rất ít học giả cho rằng Chúa Giêsu là một nhà cách mạng bạo lực. Giống như các nhân vật phi bạo lực khác trong lịch sử, ví dụ Mahatma Gandhi, Chúa Giêsu có thể được xem như người có thể gây ra nhiều mối đe dọa căn nguyên cho trật tự đã được thiết lập hơn bất kỳ người trang bị vũ trang có thể làm trong thời kỳ ấy.

Những người Sa-đu-sê (Sadducees) là những người có đầu óc thực tế nhất thời đó. Là người giàu có quý tộc, các đấng lãnh đạo tôn giáo, họ tìm cách bảo tồn sự giàu có của họ và quyền lực thông qua thỏa hiệp với Rome. Về mặt chính trị, đây là lựa chọn hữu hiệu nhất. Hầu hết các thành viên của Tòa công luận Sanhedrin xuất phát từ nhóm Sa-đu-sê. Theo nhiều cách,Sa-đu-sê có thể được xem như là nhóm có quan điểm ít nặng về tôn giáo nhất chứng minh qua việc họ không tin vào sự phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên, chúng ta sẽ sai lầm khi xem họ là bất khả tri hay vô thần như một số người đã tranh luận. Họ đã cam kết  Đức tin của họ dựa trên căn bản những bộ sách đầu của Kinh thánh của Do Thái. Hơn nữa, là những người đứng đầu giữ trật tự trong xã hội Do Thái thời ấy, họ quan tâm nhiều đến các vấn đề thời sự hơn là đầu cơ vào cuộc sống sắp tới của đời-sau. Trong Tin mừng, rõ ràng nhóm Sa-đu-sê là những đối thủ chính của Chúa Giêsu khi chịu xét xử và cái chết của Ngài. Họ thấy chính xác rằng nhản hiệu tôn giáo cực đoan của Chúa Giêsu sẽ đe dọa đến quyền lực và địa vị của họ.

Người Pha-ri-si (Pharisees) nhìn theo nhiều cách, họ là những người duy tâm của xã hội Do Thái. Phần lớn của các kinh sư (‘nhà thần học’ thời đó) là người Pha-ri-si. Nói chung, mặc dầu họ bị ‘mang tiếng xấu’ trong các Tin mừng, những người Pha-ri-si tìm cách sống một cuộc sống tinh thần trong sạch bằng cách tuân theo tỉ mỉ lề luật của Torah (lề luật Do Thái). Họ không tin vào sự thỏa hiệp với La Mã (như nhóm Sa-đu-sê), cũng như trong hoạt động cách mạng (như nhóm Zealots). Không còn nghi ngờ gì khi sự chú trọng của họ về lề luật đã có thể dẫn đến một chủ nghĩa lề luật, cho đến độ gây nên nguyên nhân cho những hành vi giả hình của họ. Tuy nhiên, nhiều người Pha-ri-si là những người có tinh thần cao và sâu sắc, như Thánh Phao Lô. Họ tin vào sự sống lại từ cái chết của con người. Từ quan điểm của họ, Chúa Giêsu dường như làm tương đối hóa não trạng họ khi Ngài rao giảng đích thực về lề luật và điều này đã gây lên những tức giận của họ đối với Ngài.

Cuối cùng,có nhóm người Essenes đã cứu vản vấn nạn về bản sắc của Do Thái trong một quốc gia Israel bị đô hộ bởi La Mã bằng cách rút về trong những vùng có khung cảnh giống sống như các tu viện. Họ có lẽ được coi như là những kẻ lập dị khi họ hoàn toàn không tham gia sinh hoạt trong xã hội Do Thái thời ấy. Nhóm này đáng được chú ý nhất trong thời Chúa Giêsu, một cộng đồng Qumran, khi họ theo một lối sống khổ hạnh và trong niềm tin trong tâm hồn chờ đợi sự can thiệp Thiên Chúa khi Ngài sẽ đến với lịch sử loài người trong ngày tận thế. Không chắc là Chúa Giêsu đã có bất kỳ mối liên hệ đặc biệt nào với nhóm này hay không. Tuy nhiên, Ngài chắc đã được giới thiệu qua phương cách sống khổ hạnh này thông qua mối liên hệ của Ngài với các môn đệ của thánh Gioan Báp-tít, John the  Baptist, người được coi như đại diện cho nhóm Essenes này khi Ngài đã có một lối sống ẩn dật trong chốn hoang vu, rút lui ra khỏi đám đông của các làng mạc hay đô thị. Chúng ta có thể xác nhận được rằng sứ vụ công khai của Chúa Giêsu đã thể hiện qua quyết định khi Ngài trực tiếp tham gia rộng rãi với các tầng lớp trong xã hội thời ấy của Ngài.

Do đó, chúng ta có thể nghiệm rằng, một khi Chúa Giêsu quyết định liên hệ với tất cả các nhóm chính trị xã hội và các hệ phái tư tưởng tôn giáo khác nhau của thời đại mình, Ngài đã chọn một cuộc sống độc đáo cho riêng mình. Đó là một vị thế mang vài nét tương tự như người thầy hướng dẫn mình, Gioan Báp-tít, mặc dù ta thấy có nhiều điểm khác biệt nỗi bật trong giáo lý và sứ vụ của hai đấng. Một số học giả so sánh Chúa Giêsu với một vị đương thời khác của Ngài, một nhà giáo tên Hillel. Cả Chúa Giêsu và Hillel đều thấm nhuần sâu sắc thánh kinh Torah Do Thái, và cả hai đều nổi tiếng những rao giảng về lòng từ bi, tha thứ và yêu thương. Sứ vụ của hai người đều hướng  sâu vào thân phận con người. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chỉ là một vi thầy, Ngài còn nỗi tiếng là người làm tiên tri, người làm phép lạ, người chữa bệnh, người bảo vệ người nghèo và bị áp bức. Do đó, sự khác biệt của Chúa Giêsu cần phải được đánh giá cao trong khung cảnh cuộc sống của người Do Thái thời ấy. Đấy là một bối cảnh rối rắm trong đó tôn giáo và chính trị hòa quyện vào nhau gây ra nhiều phức tạp mà có thể còn nhiều hơn như chúng ta thường nghĩ về Ngài trước đây.

Phần 2 – Cuộc đời và Sứ vụ của Chúa Giêsu

Bức tranh kế bên (1654-55) đánh đấu lối nhìn của thời kỳ Phục hưng (Renaissance)[1] khi tác giả đề cao bản tính nhân loại của Chúa Giêsu. Mối quan hệ của Ngài với Martha và Mary, có thể đã gây ra nhiều xì căn đan trong cuộc sống trần thế của Ngài, trong khung cảnh gia đình ấm áp và thân mật đã được thể hiện rõ lên trong tranh. Vermeer cũng nắm bắt được điều gì đó về nét tương đối trẻ trung của các nhân vật. Ngoài ra, trong thời gian này chủ nghĩa hiện thực lịch sử đang bị thách thức: các nhân vật trong hình dáng màu da và trang phục châu Âu hơn là bản cách nguyên thủy Do Thái. Chú ý hơn, chúng ta thấy trong bức tranh có sự mô tả về thiên tính của Chúa Kitô được biểu tượng bằng quầng sáng, ngón tay trỏ lộ lên một phẩm giá hiển nhiên.Tranh này dù sao vẫn giữ nét diễn tả theo ấn tượng của nền Kitô học cao (high Christology ), trong đó bản tính nhân loại của Chúa Giêsu thực sự được tôn vinh theo trào lưu phục hưng. Phải mất thêm một thế kỷ nữa mới nảy sinh lên phong trào chú trọng vào đời sống lịch sử của Chúa Giêsu (historical Jesus).


  • Niềm tin và lịch sử
  • Vị thầy giáo và nhà tiên tri
  • Vương quốc Thiên Chúa
  • Chúa Giêsu với những dụ ngôn
  • Vương quốc Thiên Chúa trong dụ ngôn
  • Người làm phép lạ
  • Nhà tiên tri về cánh chung

Niềm Tin và Lịch Sử

Chúng ta đã nhận hiểu rằng Kinh thánh Kitô giáo không chú trọng trình bày cho người đọc một tiểu sử rõ ràng về Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bộ Tin Mừng này có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin lịch sử rất giá trị về cuộc đời Chúa Giêsu nếu chúng nhận thêm được sự trợ giúp của khoa nghiên cứu lịch sử, các học giả Kinh Thánh và phương pháp suy luận hợp lý. Điều này cho phép chúng ta xây dựng một khuôn mặt Giêsu thành Nazareth mà các nhà sử học, các học giả và các tín đồ tất cả cùng có thể đồng thuận cho rằng hợp lý.

Cách tiếp cận lịch sử này không bỏ qua đức tin Kitô giáo; và ngược lại nó cũng không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào đức tin này. Phương cách như thế có nghĩa sẽ mang thêm nhiều ý nghĩa khi chúng ta phân biệt được giữa Chúa Giêsu của lịch sử và Chúa Kitô của đức tin. Chúng ta cùng đang nói về độc nhất một Chúa Giêsu, nhưng chúng ta không cho rằng Chúa Giêsu được miêu tả trong các sách phúc âm hoàn toàn giống như Chúa hay đấng Cứu Thế mà đã được các môn đệ trải nghiệm như lúc họ cùng chung sống với Ngài ở xứ Palestine. Các Tin Mừng Kitô giáo được phát hành là những câu chuyện sau phục sinh dùng để làm chứng tá cho niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh là Chúa Kitô, hay Đấng đã được xức dầu bởi Thiên Chúa.

Cả hai nhóm theo phái trực giải (literalist) hoặc phái cơ bản (fundamentalist) đã thất bại khi họ không nhìn thấy chính theo sau đó là niềm tin phục sinh đã hoán cải sự hiểu biết của các môn đệ về Chúa Giêsu là ai. Chẳng hạn, hai nhóm này cho rằng trong suốt cuộc sống tại trần gian, Chúa Giêsu luôn nhận thức hoàn toàn về bản tính thiêng liêng và vì thế Ngài biết trước tất cả mọi chuyện cần biết kể cả sự kiện sẽ xảy ra về cái chết thảm thương của chính Ngài. Tương tự như vậy, nhóm cơ bản khi đọc Kinh Thánh họ hoàn toàn bác bỏ nhân tính của Chúa Giêsu; họ đã không nhận ra một điều quan trọng là Phúc âm là những tài liệu đức tin phức tạp mà không chỉ đơn thuần là những sách thuật lại tiểu sử hoặc thuần túy những sự kiện lịch sử.

Ở phía cực đoan đầu bên kia là những người theo chủ thuyết duy lý cho rằng đã có một sự cắt đứt hoàn toàn giữa Chúa Giêsu của lịch sử và Chúa Kitô của đức tin. Đối với họ, Chúa Giêsu của lịch sử được miêu tả chính xác thật ra chỉ là một thầy giáo đạo lý, một nhà cách mạng luân lý hay thậm chí chỉ là một tay cuồng tín si mê khi đã lầm tưởng rằng thế giới sắp đến hồi kết thúc. Học thuyết duy lý này cho rằng toàn bộ truyền thống Chúa Kitô sau Phục Sinh đều đã được sắp đặt trước, do các môn đệ bày lên, họ là những người bịa ra câu chuyện phục sinh bằng cách đánh cắp thân xác Chúa Giêsu. Còn thêm tin đồn rằng, Chúa Giêsu cách nào đó đã sống sót sau khi bị đóng đinh rồi sau đó kết hôn với Mary Magdalene, hai người chung sống với nhau nhiều năm tại Rome trước khi Ngài qua đời bằng một cái chết tự nhiên. Những tin đồn như thế vẫn không thể cách nào giải thích được những biến đổi lớn trong cuộc sống của các môn đệ Chúa Giêsu cũng như trong những tín hữu đầu tiên. Chính những người này đã từng gần gủi sống cùng Chúa Giêsu trong cuộc sống trên trần thế, sau đó họ đã mạnh dạn công khai tuyên bố rằng Chúa Giêsu là Chúa Kitô, và là đấng Cứu Thế.

Thiết tưởng cách tiếp cận của chúng ta là chấp nhận vị trí ở giữa hai nhóm cực đoan này để công nhận quá trình phát triển qua những câu chuyện phúc âm của Chúa Giêsu thành Nazareth. Đây là một nền tảng suy luận được khẳng định rằng các Tin Mừng dựa trên những ký ức có thật về những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm. Theo đó, các tường thuật phúc âm được đặt nền tảng trong các sự kiện lịch sử trong cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu cùng lúc, chúng được nhìn qua con mắt của đức tin phục sinh. Nếu không có sự liên tục này giữa đức tin và lịch sử , Kitô giáo sẽ mất đi nét độc đáo của đạo khi không dựa trên thực tế lịch sử mà dựa trên một huyền thoại vô căn cứ.

Thực tế lịch sử cho thấy con người Chúa Giêsu đã tác động rất sâu đậm đến những người theo Ngài đến nỗi rằng qua các trải nghiệm, những lần gặp gỡ với Ngài đã trở nên trọng tâm trong việc họ diễn giải danh tính Ngài. Điều này cũng giống như kiến ​​thức của chúng ta về những người sống nào đó: chúng ta một khi bắt đầu biết họ sâu đậm thì đến lúc ấy chúng ta tìm thấy họ trong một mối quan hệ sống. Do đó, điều quan trọng là giữ cho Chúa Giêsu lịch sử và Chúa Kitô đức tin cùng liên kết với nhau như là một biểu hiệu đầy đủ cuộc gặp gỡ cứu rỗi với mầu nhiệm và sự độc đáo của Chúa Giêsu. Một nhà văn thể hiện cảm nhận đó như sau:

‘Jesus Christ’ được đề cập đến như một sự kiện giữa các cá nhân được khởi xướng bởi Giêsu thành Nazareth và được tiếp nhận bởi những người mà Ngài gặp phải. Trong mối quan hệ với Chúa Giêsu, người ta đã liên hệ với sức mạnh biến đổi của thực tại thiêng liêng. Một câu trả lời cho cuộc gặp gỡ qua trung gian này với Thiên Chúa là khi họ gọi Chúa Giêsu là Chúa Kitô, Đấng được xức dầu. Thật thú vị khi lưu ý rằng Chúa Giêsu đã không gọi mình là Chúa Kitô. Mặc dù Chúa Giêsu có ý thức rõ ràng về bản thân và nhiệm vụ của mình, thật khó để biết liệu Ngài có từng sử dụng bất kỳ danh hiệu nào cho mình không. Nhưng nơi Ngài thì miễn cưỡng, những người khác thì háo hức. Chính những người đã được cứu vớt qua Chúa Giêsu đã ban tặng cho Ngài các danh hiệu. “Chúa Giêsu Kitô” như một dấu chỉ liên tục một dòng chảy trong quan hệ giữa Chúa Giêsu và những người theo Ngài. Đó là một mã số Kitô giáo, một cách diễn tả rất cô động về một kinh nghiệm mà Tin Mừng Gioan gợi ý khi cho rằng điều này không thể nắn ép vào bất kỳ bộ sách nào đã từng viết ra.[2]

Như thế theo cách này, đức tin và lịch sử phải được kết hợp. Chúng ta cần tiếp cận Kinh Thánh bằng cặp mắt đức tin và bằng cả những công cụ nghiên cứu lịch sử nếu chúng ta muốn đánh giá cao bất kỳ chiều sâu bí ẩn nào về những lời thuyết giảng của Chúa Giêsu Kitô.

Ông giáo và nhà tiên tri

Thuật ngữ phổ biến nhất được áp dụng cho Chúa Giêsu là ‘ông giáo’ hoặc ‘giáo sĩ’ (ba mươi lần trong các sách phúc âm). Chắc hẳn, Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ giảng dạy công khai của mình với tư cách là môn đệ của thánh Gioan Báp-Tít John the Baptist. Giống như thánh Gioan, Chúa Giêsu dạy sự quan trọng của đức tin và lòng ăn năn hối cải; Giống như Hillel, Ngài dạy lòng từ bi và tình yêu; Giống như các vị thầy Do Thái khác, Ngài được cảm hứng từ lòng kính trọng sâu xa vào Kinh thánh Do Thái. Tuy nhiên, như chúng ta đã nhận ra, Chúa Giêsu đã tạo cho mình một phong thái mục vụ khác với thánh Gioan và các giáo sĩ khác trong thời đại Ngài. Điều này thể hiện rõ ràng qua việc Ngài dạy về lòng trung thành với Kinh thánh trong khi ngược lại, Ngài tỏ ra bất đồng với những diễn giải gò bó khắt khe về việc ăn chay, thuần khiết nghi lễ và ngày Sa-bát.

Chúa Giêsu giảng dạy về tôn giáo theo một hình thức Do Thái giáo có vẻ cấp tiến, nhưng Ngài đã không có ý muốn thiết lập một tôn giáo mới. Một điều quan trọng khi nhận ra rằng Chúa Giêsu không phải là một ông giáo chuyên nghiệp, cũng không phải là một người được thụ phong chức tư tế. Giống như họ, Ngài dạy trong các giáo đường; không giống như họ, Ngài còn dạy bên bờ hồ và trên những cánh đồng thoải mái rộng rãi. Đặc biệt là cách Chúa Giêsu hướng những lời giảng dạy của mình đến cho tất cả mọi giới – bao gồm phụ nữ, trẻ em, tội nhân, người bệnh – và không chỉ cho tầng lớp có giáo dục hay một nhóm tôn giáo tách biệt nào . Thông điệp của Ngài không có gì bí mật hay bí truyền nhưng được hướng về bất kỳ ai khi họ ‘có tai để nghe’. Hơn nữa, Chúa Giêsu khác với các nhà giáo hoặc các giáo sĩ thông thường bằng cách chọn các môn đệ cho riêng mình và lôi kéo họ vào một mối quan hệ tình bạn và sự hỗ tương mật thiết.

Theo nhiều cách, Chúa Giêsu kết hợp nhiệm vụ của thầy giáo và nhà tiên tri. Các nhà tiên tri có xu hướng phát sinh trong các tình huống khủng hoảng văn hóa hoặc tôn giáo; đầu tiên và quan trọng nhất là họ quan tâm đến các nhóm bị hất hủi lánh xa trong xã hội; họ được trang bị những thiên tài đặc biệt cách nhìn sâu sắc vào bản chất thực tế của thực tại; và họ có năng khiếu khác thường qua khả năng hùng biện. Nhà luân lý tiên tri cũng được ghi nhận khi họ truy tố những đau khổ, những bất công trong xã hội khi họ lãnh nhận một vai trò quan trọng trong việc chỉnh đốn lại truyền thống. Rõ ràng ta thấy, Chúa Giêsu hoàn thành từng tiêu chỉ đó trong chức vụ giảng dạy của mình.

Tuy nhiên, có một sự độc đáo đối với chức vụ của Chúa Giêsu, bất chấp mọi nỗ lực để xác định Ngài theo bất kỳ nhóm danh mục cụ thể nào. Có một “sự khác biệt” không thể nhầm lẫn về Ngài trong cách tuyên bố vương quốc Thiên Chúa, những phép lạ Ngài làm, khi Ngài gọi Yahweh là ‘Abba-Father’, Ngài tự do tha thứ cho những kẻ bị ruồng bỏ xã hội. Trong tất cả những hành động này, Chúa Giêsu xuất hiện như một người nói và hành động với uy quyền cá nhân lớn, một thẩm quyền dường như vượt qua vai trò truyền thống của nhà tiên tri đạo đức Israel. Trong khi đó, những nhà tiên tri khác nhận lãnh nhiệm vụ phát ngôn nhân danh Thiên Chúa ( ‘Do đó, Thiên Chúa nói:’), còn Chúa Giêsu được ghi lại như nói trên thẩm quyền của mình ( ‘Ta bảo các ngươi’).

Một cái gì đó về sự độc đáo trong sứ vụ giảng dạy và tiên tri của Chúa Giêsu được ghi lại trong đoạn trích sau:

Chúa Giêsu đã nói với một sự thẳng thắn và trực tiếp dường như đến từ sâu thẳm của Mầu nhiệm thiêng liêng, và không như các nhà chuyên gia diễn giải thời đó. Ngài có thể nói như một người Pha-ri-si, như một nhà tiên tri khải huyền, hoặc như một người lang thang kể chuyện lôi cuốn đám đông. Đôi khi Ngài giảng như thầy giáo Socrates, thách thức học sinh của mình đặt câu hỏi mới và suy nghĩ lại. Vào những lúc khác, Ngài dường như là một nhà truyền giáo hoài nghi Hy Lạp lang thang, đau khổ vì những lời dạy của mình và mạnh dạn đứng lên chống lại chính quyền tham nhũng của thời đại. Nhiều điểm tương đồng có thể được rút ra, nhưng trên thực tế, Jesus of Nazareth đứng một mình như một thầy dạy tôn giáo độc đáo, người mà không ai có thể so sánh được. [3]

Chúng ta có thể lượm lặt thêm nhiều về Jesus, một ông giáo về tôn giáo và nhà tiên tri đạo đức bằng cách tập trung vào các khía cạnh trung tâm của sứ vụ của Ngài. Đầu tiên và quan trọng nhất, trong số này là lời dạy của Ngài về vương quốc hay triều đại của Thiên Chúa.

Vương quốc Thiên Chúa

Khái niệm về triều đại của Thiên Chúa là đề tài trung tâm và liên tục trong sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Nó phát sinh từ kinh nghiệm tôn giáo độc đáo và không thể so sánh được của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa mà Ngài dám gọi đến với danh hiệu thân tình ‘Abba’. Hai tường thuật về phép báp tít và biến đổi của Chúa Giêsu là các câu chuyện sau khi phục sinh được viết ra để làm chứng cho sự công nhận Chúa Giêsu bởi Thiên Chúa như một đặc phái viên hoặc sứ giả. Trong hai câu chuyện, mối quan hệ giữa Thiên Chúa và Chúa Giêsu được đánh dấu bằng một sự dịu dàng đáng ngạc nhiên và mối quan tâm đầy tình yêu thương. Hơn nữa, Chúa Giêsu được nhìn nhận là Con Thiên Chúa và là ngôn sứ của Thiên Chúa: ‘Đây là Con yêu dấu của Ta, người mà Ta rất hài lòng – hãy lắng nghe Người’ (Mt 3:17; 17:25).

Chính trong bối cảnh kinh nghiệm tôn giáo của Chúa Giêsu – ‘Kinh nghiệm Abba‘ của Ngài và ý thức được Thiên Chúa chọn cho Ngài một sứ mệnh đặc biệt đến thế giới : Chúa Giêsu hiện thân và loan báo một thông điệp mới cho tất cả mọi người. Đó là một thông điệp về công lý, tình yêu và hòa bình, theo ngôn ngữ của Chúa Giêsu, được thể hiện bằng phép ẩn dụ của vương quốc hoặc triều đại của Thiên Chúa.

Chúng ta đã tuyên xưng rằng kinh nghiệm tôn giáo của Chúa Giêsu về một Thiên Chúa rất riêng tư và yêu thương cần phải được hiểu trong bối cảnh đức tin Do Thái của Ngài. Điều đó cũng đúng như kinh nghiệm và sự hiểu biết của Ngài về vương quốc của Thiên Chúa rút ra từ những hiểu biết tốt nhất về truyền thống Do Thái, khi hiểu Thiên Chúa là vua (Ê-sai 52:17). Tuy nhiên, vào thời Chúa Giêsu, sự hiểu biết về vương quốc phần lớn bị bóp méo thông qua kinh nghiệm của mọi người về các hình thức chuyên chế và lạm dụng quyền lực. Chúa Giêsu đưa ra một cách tiếp cận mới mẻ về khái niệm vương quốc bằng cách liên kết nó với kinh nghiệm của chính mình về một Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc sâu sắc, mối quan tâm duy nhất là giải phóng con người khỏi thế lực của tội ác và trao cho họ một tầm nhìn mới.

Trái ngược với những diễn giải phổ biến hơn trong thời đại của mình, Chúa Giêsu không xác định sự xuất hiện của vương quốc với sự hủy diệt khải huyền, luật pháp kinh điển, rút ​​giáo phái ra khỏi xã hội, cũng không phải là cuộc nổi dậy cách mạng. Thay vào đó, qua lời nói và hành động của mình, Chúa Giêsu rao giảng một thông điệp về triều đại sắp tới của Thiên Chúa sẽ được đánh dấu bằng sự biến đổi cá nhân, xã hội và thậm chí là vũ trụ. Tuy nhiên, đối với Chúa Giêsu, vương quốc không chỉ là một thực tại trong tương lai. Nó cũng đang ‘trong tầm tay’ ở đây và ngay bây giờ bởi vì lòng từ bi và lòng thương xót của Thiên Chúa luôn có sẵn cho tất cả mọi người. Đây là thông điệp trong nhiều dụ ngôn của Chúa Giêsu và được tuyên bố trong những câu nói cấp tiến và sứ vụ chữa lành của Ngài. Triều đại đã tới xảy ra hiện giờ của Thiên Chúa đặc biệt tượng trưng trong cách ăn chung bàn mà Chúa Giêsu thiết lập với tất cả các hạng người dân bao gồm cả kẻ bị ruồng bỏ bên lề xã hội.

Những rao giảng của Chúa Giêsu về vương quốc Thiên Chúa cũng được liên kết với lời kêu gọi chuyển đổi và lời mời gọi trải nghiệm sự gần gũi tuyệt vời với Thiên Chúa. Theo cách này, triều đại Thiên Chúa trong sứ vụ của Chúa Giêsu bắt nguồn từ kinh nghiệm tôn giáo của chính Ngài. Ngài nhấn mạnh rằng chỉ có triều đại Thiên Chúa hoặc Thiên Chúa mới có thể lật đổ sự xấu xa và tiêu cực trong cuộc sống và lịch sử của con người. Tuy nhiên, Ngài cũng nhấn mạnh rằng con người phải đáp ứng lời mời của Thiên Chúa và do đó phải chuyển đổi sang một cách sống mới nếu triều đại Thiên Chúa trở nên hiện thực. Hơn nữa, Chúa Giêsu trực tiếp thách thức các thái độ xã hội và tôn giáo phải hành động để đứng về phía các kẻ bị áp bức. Hành động của Ngài trong đền thờ, tình bạn của Ngài với phụ nữ và sự ủng hộ của Ngài cho người nghèo, cho thấy rõ rằng chương trình của Ngài bao gồm một thách thức sâu sắc và không sợ hãi về những thành kiến ​​và bất công trong thời đại của Ngài.

Không độc nhất một ý nghĩa nào mà chúng ta có thể dùng để so sánh với khái niệm về triều đại Thiên Chúa diễn ra trong sứ vụ của Chúa Giêsu. Nó bắt nguồn từ quan niệm của người Do Thái rằng Thiên Chúa (Yahweh) là Chúa và Vua: tất cả mọi tạo vật đều phải chịu sự sáng tạo của nó (thần học sáng tạo); và vương quyền của Chúa là hiển nhiên trong các sự kiện cuộc đời của lịch sử Israel (thần học cứu độ). Điều này mang đến cho người Do Thái một cảm giác kỳ vọng và họ hy vọng rằng, giống như triều đại của Thiên Chúa thể hiện chính trong các sự kiện quá khứ như trong kinh nghiệm Xuất hành, nên nó cũng sẽ được biểu hiện trong tương lai. Chúa Giêsu tuyên bố thông điệp về vương quốc Thiên Chúa bằng cách Ngài chỉ ra rằng sự hoàn thành trong tương lai của vương quốc ấy đã xảy ra ngay bây giờ (Lc.11: 20) và, theo một cách nào đó, được liên kết với sứ vụ và con người của chính Ngài (Mt.11: 2ff.).

Do đó, triều đại của Thiên Chúa không bị giới hạn trong kinh nghiệm cá nhân. Nó lan rộng vào các hoạt động chính trị xã hội – nhưng chỉ, và luôn luôn, trên sự hiểu biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể cho phép vương quốc ấy xảy ra. Vương quốc Thiên Chúa là việc Thiên Chúa làm và là quà tặng của Thiên Chúa. Đây là lý do tại sao Chúa Giêsu không chỉ đang làm sứ vụ nhân danh vương quốc; Ngài cũng đang cầu nguyện cho nó: “mong có thể vương quốc của bạn sẽ đến!” Triều đại Thiên Chúa là trọng tâm và là cùng đích chân trời của toàn bộ cuộc đời và sứ mệnh của Chúa Giêsu. Theo thuật ngữ cá nhân, đó là một lời kêu gọi đến một chuyển biến tâm trí metanoia hoặc biến đổi hoàn toàn của trái tim. Về mặt xã hội, đó là lời kêu gọi đến các cơ chế, tổ chức cộng đồng cần phải thay đổi dựa trên các giá trị của Bài Giảng Trên Núi. Theo thuật ngữ vũ trụ, điều ấy nhận ra rằng Thiên Chúa sẽ mang lại toàn bộ thế giới và mọi người để hoàn thành mọi sự sáng tạo . Sự trị vì của Thiên Chúa là một phạm trù huyền bí hoặc tôn giáo với những âm bội chính trị và vũ trụ sâu sắc.

Chúa Giêsu và những dụ ngôn

Một trong những đặc điểm đặc biệt nhất trong sứ vụ giảng dạy và tiên tri của Chúa Giêsu là cách Ngài sử dụng những câu chuyện thông thường để giải trí và thách thức người nghe một cách mới để họ trải nghiệm ra được Thiên Chúa trong cuộc sống của họ. Những câu chuyện hoặc ngụ ngôn này rất đáng chú ý vì tính cách thực tế và khả năng tiếp cận những trải nghiệm hàng ngày của mọi người. Ví dụ, chúng ̣đề cập về các bữa ăn và những hành trình, cừu và dê, tiền xu và ngọc trai, lúa mì và hạt giống, đèn vải và dầu, cây và chim. Tuy nhiên, điều hiển nhiên trong việc kể lên các dụ ngôn là cách mà chúng có một bước ngoặt bất ngờ: sự quen thuộc trở nên kỳ lạ; giá trị thông thường được bật ngược trên đầu họ; người nghe buộc phải đưa ra quyết định chọn lựa giữa hai thế giới hoặc các giá trị có thể.

Lấy ví dụ, các dụ ngôn của Người Pha-ri-si và Thu thuế (Lk.18: 9-14) và Người Samari tốt lành (Lk.10: 29-37). Những người Do Thái tốt lành trong thời Chúa Giêsu có những ý tưởng khá rõ ràng về việc cầu nguyện và đức hạnh: lời cầu nguyện của những người sống tốt (pharisees) sẽ được Thiên Chúa lắng nghe, trong khi lời cầu nguyện của những người tội lỗi (người thâu thuế) không thể thành công; một số loại người (kinh sư và người có đạo ) nhất định là người tốt và có đạo đức, trong khi những người xứ ngoài là hạng thấp (Samaritans) vô kiến thức về đaọ đức . Tuy nhiên, những gì chúng ta tìm thấy là Chúa Giêsu đảo ngược các quan điểm truyền thống: đó là lời cầu nguyện của tội nhân được Thiên Chúa lắng nghe; đó là người xứ ngoài hành động với đức hạnh. Đáng kinh ngạc hơn nữa là những lời tuyên bố rằng lời cầu nguyện của nhóm pharisee sẽ không thành công và hành động của kinh sư và levite là tội lỗi. Rõ ràng, những người thoạt nghe những chuyện ngụ ngôn này đã được dẫn đến một điểm quyết định liên quan đến hệ thống giá trị của chính họ, những phán xét tôn giáo và hành động đạo đức.

Chúng ta có thể nhận ra trong các dụ ngôn này một mô hình ba giai đoạn phiêu lưu (những gì mọi người mong đợi), đảo ngược kỳ vọng (những gì Chúa Giêsu nói) và lời kêu gọi hướng về tầm nhìn và hành động mới (cách mọi người phải thay đổi). Mô hình tương tự này áp dụng cho việc tiếp nhận chính Chúa Giêsu trong phương thức liên quan đến phụ nữ, người nghèo, người ngoài Do Thái và tội nhân. 1) Kỳ Vọng: những người Do Thái tốt gắn liền với những người đạo đức khác. 2) Đảo Ngược: Chúa Giêsu đối tác và ngồi ăn cùng với đám sai lạc. 3) Tầm nhìn / hành động mới: những đức tính tôn giáo gỉa định của tôi có thể chỉ là định kiến ​​của con người. Ít nhất, người ta buộc phải đưa ra quyết định liên quan đến Chúa Giêsu và chính mình. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói rằng chính Chúa Giêsu là một người dùng dụ ngôn: Ngài tuyên bố triều đại của Thiên Chúa thông qua những lời nói và hành động phá vỡ một thế giới đang được mọi người chấp nhận khiến họ trở nên tầm thường trước những hiểu biết mới về con người và kinh nghiệm mới về Thiên Chúa.

Vương quốc Thiên Chúa trong các dụ ngôn

Các dụ ngôn về Kho báu ẩn giấu và Hòn ngọc vĩ đại (Mt.13: 44ff.) minh họa mối quan hệ giữa triều đại sắp tới của Thiên Chúa và sự hiện thực hóa của nó. Có một sự cấp bách về những thứ đòi hỏi một cách nhìn và hành động mới. Những câu chuyện này thách thức người nghe về một sự thay đổi của trái tim hoặc đảo ngược các ưu tiên nếu vương quốc – ở đây được biểu tượng như một kho báu ẩn giấu hoặc một hòn đá đắt tiền – sẽ được công nhận và nhận được.

Tầm nhìn mới và cấp bách này của vương quốc, được tóm tắt mạnh mẽ trong Bài giảng trên núi, chủ yếu là một lời kêu gọi chuyển đổi cá nhân và xã hội nhân danh Thiên Chúa trị vì. Chiều kích xã hội thể hiện rõ qua các dụ ngôn của Tài năng và Phán quyết cuối cùng (Mt.25: 14ff.). Nó cũng là trung tâm của lời kêu gọi thay đổi tập quán của Chúa Giêsu, đó là một biểu hiện hoặc biểu tượng hơn nữa của triều đại của Thiên Chúa – một triều đại của công lý, hòa bình, tha thứ và tình yêu.

Mối liên hệ mật thiết giữa sự giải phóng hiện tại và sự cứu rỗi trong tương lai cũng được chuyển tải trong các dụ ngôn của Hạt mù tạt (Mk.4: 30) và Leaven và Dough (Mt.13: 33). Thiên Chúa của Israel trong các dụ ngôn của Chúa Giêsu không phải là một vị thần của hiện trạng hay tương lai không xác định, mà là một Thiên Chúa đang gây ra sự thay đổi tại đây trong thời điểm hiện tại.

Cũng thật hữu ích để đọc những câu nói cấp tiến của Chúa Giêsu như những dụ ngôn nhỏ nhưng sâu sắc của vương quốc. Như đã được tường thuật trong các Tin mừng, Chúa Giêsu đưa ra những yêu cầu dường vô lý như sau đây cho những người theo Ngài:

• Để người chết chôn cất người chết của họ (Lc.9: 60)

• Nếu có ai đánh bạn vào má phải. . . (Mt.5: 39)

• Bất cứ ai cố gắng cứu mạng mình sẽ mất nó (Mc 8: 35)

• Một con lạc đà đi qua mắt kim sẽ dễ dàng hơn so với một người giàu có để vào vương quốc thiên đàng (Mc 10: 23)

• Đầu tiên sẽ là cuối cùng; và cuối cùng sẽ là đầu tiên (Mc 10: 31)

• Những thứ phát ra từ một người là những gì ô uế (Mk.7: 15)

• Vương quốc của Thiên Chúa phải được tiếp nhận như một đứa trẻ nhỏ (Mc 10,15)

Những phát biểu như vậy có ý nghĩa gây sốc cho người nghe, để đưa anh ta hoặc cô ta đến một hình thức tự vấn sâu sắc. Rõ ràng, triều đại của Thiên Chúa liên minh chặt chẽ với phản ứng của người nghe khi người ấy có thể nhận ra tất cả những đòi hỏi này là quá nhiều, và giống như trong câu chuyện ngụ ngôn của người thanh niên giàu có, buồn bã bước đi. Tuy nhiên, nếu một người thực sự nhận hiểu được tin mừng, người này phải thay đổi. Để thực sự lắng nghe những câu nói cấp tiến của Chúa Giêsu là chúng ta phải trải nghiệm được điều gì đó về vương quyền của Thiên Chúa trong thế giới của hiện tại bây giờ và nơi đây.

Trong những câu nói cực đoan này của Chúa Giêsu, trong mô hình ba lần: kỳ vọng, sốc, tầm nhìn mới / lời khen ngợi bất chấp một lời giải thích hợp lý. Nó rất giống với trải nghiệm thô sơ mà chúng ta có khi ai đó chúng ta yêu thương thử thách thái độ và hành vi của chúng ta. Ban đầu chúng ta cảm thấy tổn thương và bị phản bội; chúng ta đã không mong đợi điều này đến từ hết thảy mọi người! Cuộc sống của chúng ta bị ném vào hỗn loạn. Sau đó, chúng ta có thể đến để thấy rằng những gì người đó đã nói với chúng ta và về chúng ta là sự thật. Chúng ta thấy rằng chúng ta cần thay đổi cách thức của chúng ta, thay đổi chính bản thể của chúng ta, để đúng với chính mình. Lấy một ví dụ khác ở cấp độ xã hội, người Úc bắt đầu thấy và hiểu rằng, mặc dù thông thường họ có ý định tốt, ‘người da trắng’ Úc đã thể hiện thái độ kỳ thị chủng tộc, hoặc những người phân biệt giới tính, họ cần phải được lật ngược. Đây là một sự thật khó khăn đối đầu. Tuy nhiên, chỉ khi sự thật đó được thừa nhận sâu sắc nhất, mới có thể có sự tha thứ, tăng trưởng và hòa giải. Theo cách tương tự, các dụ ngôn và những câu nói cực đoan của Chúa Giêsu lôi kéo người nghe đến một khoảnh khắc khủng hoảng và quyết định liên quan đến thái độ và hành vi của họ. Họ cũng được rút ra để xem xét các giả định của họ về Thiên Chúa, vương quốc và chính Chúa Giêsu. Hoặc là Chúa Giêsu sẽ bị loại bỏ như một loại tôn giáo điên rồ khác hoặc mọi thứ phải thay đổi!

Người làm phép lạ

Thường có sự bối rối hoặc ít nhất là sự hiểu biết mờ nhạt khi mọi người ngày nay tiếp cận vấn đề Chúa Giêsu: người làm phép lạ. Rõ ràng, sự hiểu biết khoa học của chúng ta về thế giới rất khó xác định sự trung thật của các phép lạ này. Một mặt, chúng ta phải đối mặt với vấn đề rằng một số câu chuyện thần kỳ có vẻ hơi xa vời. Mặt khác, có những người muốn nắm giữ các phép lạ của Chúa Giêsu như một bằng chứng thiêng liêng nào đó rằng Ngài là Thiên Chúa. Do đó, chúng ta cần xem xét câu hỏi về tính lịch sử của phép lạ của Chúa Giêsu và sau đó hỏi xem phép lạ đó có ý nghĩa gì để truyền đạt.

Các phép lạ là câu chuyện sau biến cố phục sinh. Đó là, chúng đã trở nên hơi bóng gió điệu bộ trong lối chúng được trình bày. Một lần nữa, chúng ta cần nhớ lại rằng các Tin mừng là câu chuyện đức tin đầu tiên và quan trọng nhất chứ không phải là đơn thuần lịch sử thẳng thắn. Hơn nữa, có bằng chứng cho ta thấy rằng một số phép lạ tự nhiên đã được vay mượn từ các truyền thống khác và gán cho Chúa Giêsu như một dấu hiệu của niềm tin vào vai thần tính của Ngài. Tuy nhiên, phần lớn các phép lạ được báo cáo trong Tin mừng cần phải được xem như dựa trên lịch sử: chúng là một phần của tầng lớp sớm nhất của truyền thống Giêsu; chúng chắc chắn phù hợp với sứ mệnh chung của Chúa Giêsu là tuyên bố triều đại của Thiên Chúa trên thế giới; và không có bằng chứng nào cho thấy người dân thời Chúa Giê-su tranh cãi về sự thật của những phép lạ như vậy (ngay cả khi họ tranh luận về cách giải thích của họ).

Thật hữu ích khi ta so sánh các tường trình về phép lạ của Chúa Giêsu với các báo cáo của các pháp sư thời ấy. Ngược lại, phép lạ của Chúa Giêsu được đánh dấu bằng sự điều độ và ràng buộc. Chúng không tìm cách trở nên ngoạn mục, vượt qua ý chí của người khác, để giữ bí mật hoặc thu hút sự chú ý về cho mình. Cần phải nhớ rằng trong Do Thái giáo thời đó, ma thuật thường được xem là “dấu hiệu của ma quỷ”. Điều này có nghĩa là các môn đệ và các thánh viết Tin Mừng sẽ có khuynh hướng phớt lờ chiều kích này trong sứ vụ của Chúa Giêsu trừ khi họ coi đó là một phần trung tâm trong sứ mệnh của Ngài. Đối với họ, ít nhất, phép lạ của Chúa Giêsu là một dấu hiệu, không phải của ma quỷ, mà là của Thiên Chúa.

Do đó, bất kể những chi tiết lịch sử nào của những câu chuyện về phép lạ, chúng đều được những người tin vào Chúa Giêsu công nhận là “dấu hiệu của Thiên Chúa”. Tuy nhiên, các phép lạ không được trình bày như bằng chứng về tình trạng thiêng liêng của Chúa Giêsu. Chúng được xem như quá mơ hồ cho điều đó. Về vấn đề này, thật thú vị khi Chúa Giêsu được miêu tả trong một dịp là Ngài ‘từ chối đưa ra một dấu hiệu’. Một điều cũng rất quan trọng là cả Phao-lô và bất kỳ nhà viết Tân Ước sau Tin Mừng nào khác đều không đề cập đến các phép lạ.

Được sử dụng bởi Chúa Giêsu, các phép lạ cần phải được nhìn thấy trong bối cảnh sứ vụ tuyên bố triều đại và quyền năng của Thiên Chúa. Chúng không nhấn mạnh khái niệm về một “sự kiện đặc biệt” và, bằng cách này hay cách khác, việc thực hiện phép lạ luôn liên quan đến đức tin của người dân và cộng đồng rộng lớn hơn. Đôi khi, phép lạ của Chúa Giêsu hướng đến điều Ngài muốn đề cập khi thách thức những định kiến ​​và thái độ truyền thống như quan niệm sai lầm rằng bệnh tật của mọi người là do tội lỗi của họ. Cuối cùng, cần phải nói rằng trung tâm chính yếu của phép lạ là liên quan đến Chúa Giêsu là sự phục sinh từ cõi chết, trước hết là hành động của Thiên Chúa đối với Chúa Giêsu đối với thế giới. Tất cả những câu chuyện thần kỳ cần phải được nhìn thấy dưới ánh sáng của sự hiện diện thiêng liêng trong vũ trụ. Chỉ với con mắt của đức tin, những câu chuyện phép lạ mới có thể được đặt trong viễn cảnh đúng đắn này về sự hiện diện của Chúa trong vũ trụ.

Nhà Tiên tri về Cánh chung

Người Do Thái thời Chúa Jesus đang chờ đợi những gì họ hiểu là nhà tiên tri cuối cùng hoặc cánh chung, vị này sẽ mở ra ‘những ngày cuối cùng’. Hình ảnh của nhà tiên tri này rất đa dạng. Đối với một số người, nhà tiên tri cuối cùng này sẽ là một nhân vật giống Moses hoặc thậm chí là sự tái xuất hiện thực sự của một cựu tiên tri (Elijah và Ezekiel là những lựa chọn phổ biến). Đối với những người khác, nhân vật cánh chung này gắn liền với sự hình thành của một vương quốc chính trị (mọi người nhớ lại thời kỳ huy hoàng của thời xưa khi Solomon và vua David trị vì). Đối với những người khác, một lần nữa, nhà tiên tri đã được liên kết với sự hủy diệt tận thế của thế giới hiện tại.

Vào thời Gioan Báp Tít và Chúa Giêsu, Israel đã không có một nhà tiên tri quan trọng trong nhiều thế hệ. Hơn nữa, dưới ách áp bức của La Mã, cảm giác kỳ vọng đã tăng lên. Không thể tránh khỏi rằng lúc đầu thánh Gioan, và sau đó là Đức Giêsu, được nhiều người coi là nhà tiên tri cánh chung mà người Do Thái đã chờ đợi. Tuy nhiên, như tất yếu xảy ra khi mọi người dự đoán những kỳ vọng của họ lên người khác, đã đến lúc hy vọng tan vỡ. Thất vọng và thất vọng tràn trề. Cả sự nổi tiếng ban đầu của Chúa Giêsu và sự thù địch cuối cùng đối với Ngài được giải thích một phần về sự đồng nhất của anh ta với nhà tiên tri cánh chung mà Israel đã đặt ra hy vọng. Khi hy vọng của mọi người bị tan vỡ, các lực lượng phi lý và bạo lực thường được tung ra.

Rất có thể Chúa Giêsu hiểu mình là nhà tiên tri cánh chung có nhiệm vụ khai mạc ‘những ngày cuối cùng’ của ‘triều đại của Thiên Chúa’. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã không hiểu sự trị vì của Thiên Chúa trong cả hai khía cạnh chính trị hẹp hòi (thiết lập một chế độ chính trị mới) hoặc theo cách tận thế truyền thống (sự hủy diệt theo nghĩa đen của vũ trụ). Như chúng ta đã thấy, đối với Chúa Giêsu, triều đại của Thiên Chúa được liên kết với một kinh nghiệm mới về sự hiện diện thiêng liêng, một điều cần phải trải nghiệm ở đây và bây giờ và sự hoàn thành cuối cùng vẫn chưa xảy ra. Trên cơ sở chân dung phúc âm của Chúa Giêsu, chúng ta có thể nói rằng sự hiểu biết của Ngài về triều đại của Thiên Chúa vừa thần bí – một kinh nghiệm mới về sự hiện diện của Thiên Chúa ở đây và bây giờ – và tiên tri – lời kêu gọi cho những người theo ông đến một sự thay đổi cá nhân và xã hội của trái tim.

Tuy nhiên, vì những lý do mà bây giờ chúng ta phải khám phá, thông điệp và sứ mệnh của Chúa Giêsu đã được giải thích như một mối đe dọa đối với hiện trạng tôn giáo và chính trị. Chúa Giêsu được báo cáo là lưu ý điều này khi Ngài tuyên bố: “Một tiên tri không bao giờ được chấp nhận ở đất nước mình hoặc giữa chính dân tộc mình” (Mác 6: 4)

[1] The Renaissance is a period from the 14th to the 17th century, considered the bridge between the Middle Ages and Modern history. It started as a cultural movement in Italy in the Late Medieval period and later spread to the rest of Europe. Phục hưng bắt đầu từ một phong trào văn hóa xuất phát từ Ý sau đó lan tỏa khắp phương Tây từ thế kỷ thứ 14 cho đến thế kỷ 17, nối liền hai lịch sử thời Trung Cổ và Hiện Đại.

[2] John Shea, Một kinh nghiệm mang tên Linh hồn (Chicago: Thomas More Press, 1983)

[3] Brennan Hill, Jesus the Christ ( Chúa Giêsu CT: Hai mươi ba ấn phẩm, 1991), 62.

Đón xem phần tiếp theo…

Phần 3 – Cái Chết của Chúa Giêsu

Dornengekroenter Christus Hans Breinlinger
1881-1963

Thập giá đã là biểu tượng trung tâm của Kitô giáo trong hai nghìn năm qua.
Thật vậy, không có sự kiện nào trong lịch sử loài người đã truyền cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật hơn cuộc đóng đinh và cái chết của Chúa Giêsu. Mỗi thế hệ nghệ sĩ trở về với Thập giá để lấy cảm hứng giữa một thế giới thường bị quấy rầy bởi đau khổ, xấu xa và bi kịch.

Mặc dù bức chân dung đóng đinh năm 1936 này của Christ Thorn-Crowned đã có trước khi xảy ra Thế chiến II khủng khiếp, nhưng dù sao bức tranh đã được phát sinh để đáp lại lịch sử bẩn thỉu của Thế chiến I rồi theo sau đó là cuộc Đại Khủng hoảng và sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít Hitler ở Đức quốc.
Nhân tính đau khổ của Chúa Kitô được mô tả rõ ràng ngay cả khi màu sắc rực rỡ được gợi lên một cách tinh tế về thực tại thiêng liêng của Ngài. Tuy nhiên, trong bức chân dung này không có ý định hạ thấp toàn bộ nỗi kinh hoàng của sự chết chóc và sự thật chế giễu của một vương miện vua làm bằng gai xé vào đầu và mặt Chúa Kitô.

  • Cái giết Chúa Giêsu
  • Chúa Giêsu tiếp cận cái chết của Ngài
  • Diễn giải cái chết Chúa Giêsu

Cái Giết Chúa Giêsu

Có thể an toàn khi nói rằng Chúa Giêsu không bị đóng đinh vì Ngài đã dạy tình yêu và sự tha thứ hoặc bởi vì Ngài đặt ra những tranh luận về điểm giáo luật với các kinh sư trong thời của Ngài. Chúa Giêsu bị đóng đinh vì Ngài bị coi là mối đe dọa đối với các thế lực. Phương thức tranh đấu phi bạo lực của Ngài, cách Ngài gây ra những khuấy động trong dân chúng và lối bênh vực cho người nghèo và kẻ bị áp bức, tất cả được đánh giá chính xác là những mối thách thức đến các cấu trúc quyền lực chính trị thời đó.

Đền Thờ Do thái trong thời đại Chúa Giêsu

Không có gì trong các điều kể trên đây là để gợi ý rằng Chúa Giêsu là một kẻ nổi loạn chính trị (một người quá khích Zealot), nhưng những điều ấy nói lên rằng sứ vụ của Ngài là tuyên bố triều đại của Thiên Chúa mang một ý nghĩa chính trị sâu sắc. Những hàm ý như vậy trở nên rõ ràng hơn trong quan điểm về hành động của Chúa Giêsu trong ‘việc làm sạch đền thờ’. Vào bấy giờ ngôi đền thờ không chỉ là một nơi chốn không gian. Ngôi đền thờ là biểu tượng của toàn bộ đức tin Do Thái và cấu trúc quyền lực tôn giáo. Đáng kể, trong hai bài phúc âm về cuộc thương khó, lời buộc tội được đưa ra chống lại Chúa Giêsu là Ngài ‘đe dọa’ ngôi đền thờ. Thực vậy, những gì Ngài đã tuyên bố như là những lời dạy và hành động Ngài đã đe dọa chính nền tảng của cuộc sống của người Do Thái. Mặc dù phúc âm các nhà viết kinh thánh không đề cập rõ ràng tuyên bố này, nhưng đã có bằng chứng cho thấy rằng theo cả hai cách nhìn tinh tế và sâu sắc, Chúa Giêsu chắc chắn đã thách thức đến một số thực hành của các tổ chức hành chánh trung ương và các thể chế trong đời sống Do Thái.
Thách thức triệt để này đối với Do Thái giáo có thể được mô tả dưới dạng mang lại sự gần gũi mới của Thiên Chúa cho mọi người, điều này sẽ có tác dụng loại bỏ – ít nhất là giảm đáng kể – nhu cầu về vai trò hòa giải của con người. Nhiệm vụ của Chúa Giêsu rất rõ ràng khi ngụ ý rằng quyền của tất cả mọi người khi gọi Thiên Chúa là ‘Cha’. Điều này có nghĩa là các nhà lãnh đạo Do Thái, đặc biệt là các Thượng tế trưởng và nhóm Sadtorees được đề cập trong các phúc âm về cuộc thương khó, họ có lý do chính đáng để nghi ngờ rằng tôn giáo cực đoan của Chúa Giêsu đã đe dọa vai trò và địa vị của chính họ.

Một vài điều chúng ta có thể nói được về các cáo buộc Chúa Giêsu bởi Thượng hội đồng Sanhedrin Do Thái. Đầu tiên, họ ngụ ý rằng nhiệm vụ của Chúa Giêsu không hoàn toàn là một thất bại. Số lượng đáng kể của tất cả mọi người, bao gồm một số người từ các tầng lớp thống trị Do Thái, đã đi đến một điểm chấp nhận rằng Chúa Giêsu thực sự là một nhà tiên tri thực, có lẽ ngay cả Đấng Thiên Sai mà dân Do Thái đã chờ đợi. Thứ hai, thành tích này là một mối đe dọa rất thực tế đối với tình trạng của cơ quan luật pháp có thẩm quyền. Nếu Chúa Giêsu được coi là ‘Chúa Kitô’ và ‘Chúa’ đối với một số người, thì thực tế này đã đe dọa đến vị lãnh chúa quen thuộc của những người khác, đặc biệt là các thượng tế và thầy thông sư. Do đó, Chúa Giêsu là một vấn đề đối với hệ thống cơ chế của người Do Thái từ cả hai khía cạnh tôn giáo và chính trị.

Tuy nhiên, không ai trong số này giải thích sự liên quan của Philatô và chính quyền La Mã. Bất chấp cáo buộc báng bổ đó là chống lại Chúa Giêsu, điều quan trọng là phải nhận ra rằng Ngài đã bị người La Mã kết án tử hình với tội danh phản quốc chính trị: “Ông ta tự xưng là Vua của người Do Thái”. Tiêu đề lộn xộn này có ý nghĩa chính trị rất rõ ràng. Phúc âm của Luca mở rộng về tội danh này: “Chúng tôi đã tìm thấy người đàn ông này làm hư hỏng quốc gia của chúng tôi và cấm chúng tôi cống nạp cho Caesar, và nói rằng chính ông ta là Chúa Kitô, một vị vua” (23: 1). Vấn đề ở đây là, đối với những người chiếm đóng La Mã ở Israel, Jesus có thể được coi là một nhà cách mạng. Ít nhất, Philatô và chính quyền La Mã có lý do chính đáng để ngăn chặn phong trào của Chúa Giêsu trên cơ sở các khả năng lật đổ chính quyền của nó.


Mặc dù có nhiều điều chúng ta chưa biết liên quan đến các sự kiện xung quanh cái chết của Chúa Giêsu, chúng ta có thể phỏng đoán rằng đã có một thỏa thuận xảy ra giữa các nhà lãnh đạo Do Thái và chính quyền La Mã. Cả hai đều có cổ phần trong việc loại bỏ danh hiệu tôn giáo của Chúa Giêsu: các nhà lãnh đạo Do Thái có quyền lực và địa vị để bảo vệ; Người La Mã quan tâm nhiều hơn đến luật pháp và trật tự.

Người ta thường công nhận rằng các tường thuật phúc âm đặt phần lớn trách nhiệm cho cái chết của Chúa Giêsu đối với người Do Thái hơn là người La Mã. Hay nhất, đây là báo cáo không cân bằng. Tệ nhất, nó cho thấy một khuynh hướng chống Do Thái trong Kitô giáo sơ khai. Để đưa hồ sơ này lên một cách rõ ràng thẳng thắn hơn, Chúa Giêsu đã chết bởi bàn tay của người La Mã và theo cách xử tử của người La Mã (người Do Thái không có quyền đóng đinh). Tuy nhiên, không thể xây dựng một câu chuyện về xét xử và đóng đinh của Chúa Giêsu mà không ám chỉ các nhà lãnh đạo Do Thái thời đó. Tất cả điều này chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa tôn giáo và chính trị trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu.

Việc đóng đinh và cái chết của Chúa Giêsu phải luôn luôn được nhìn thấy trong bối cảnh cuộc đời và chức vụ của Ngài. Mặc dù Chúa Giêsu không quan tâm đến việc thành lập một vương quốc chính trị, nhưng những lời dạy của Ngài về triều đại của Thiên Chúa đã thách thức sâu sắc vào các thể chế và tập quán truyền thống của người Do Thái. Chúa Giêsu đã đi một con đường nguy hiểm: Ngài tấn công quyền lực và sự giàu có; Ngài đã đảo ngược thái độ xã hội áp bức những người ‘ô uế’ hoặc ‘không xứng đáng’; Ngài dạy nhu cầu cầu nguyện và tự hy sinh; Ngài kêu gọi mọi người giành quyền tự do và nhân quyền khi đối mặt với bất công; Ngài đặt tên cho giới tinh hoa tôn giáo là một “loài vipers” vì cách thức hút máu người nghèo và người thiếu thốn. Nói cách khác, Chúa Giêsu đã trở thành kẻ thù trong số các nhà lãnh đạo Do Thái và các lãnh chúa La Mã của họ. Những tầng lớp giàu có và quyền lực này đã bị đe dọa đến mức họ cần phải làm Ngài khuất mặt.

Chúa Giêsu tiếp cận cái chết của Ngài

Chúng ta có thể nói gì về sự hiểu biết của chính Chúa Giêsu về cái chết đang đến gần của mình? Vì việc đóng đinh và cái chết của Chúa Giêsu là kết quả của cuộc đời và chức vụ của Ngài, chúng ta có thể cho rằng Ngài phải nghĩ đến điều có thể xảy đến là cái chết trước khi kết thúc chức vụ của mình. Chúa Giêsu không phải là một kẻ cuồng tín mù quáng cũng không phải là một kẻ ngốc. Ngài chắc chắn hiểu được việc chặt đầu tháng Gioan Báp-tít và Ngài biết về số phận bi thảm của nhiều nhà tiên tri trước mình. Ngoài ra, những lời buộc tội chống Chúa Giêsu – như xua đuổi con quỷ nhân danh Beelzebub, một nhà tiên tri giả, phá bỏ luật lệ ngày Sa-bát, buộc tội lộng ngôn – theo truyền thống Do Thái có thể bị trừng phạt bằng cái chết ném đá.

Do đó, không thể nghi ngờ rằng hành trình của Chúa Giêsu đến Jerusalem là kết quả của một quyết định có chủ ý và có ý thức để đối mặt với nguy hiểm bao gồm nguy cơ tử vong. Ngài biết về sự đối lập ngày càng tăng đối với Ngài và nhiệm vụ của Ngài. Tuy nhiên, bất chấp điều này, Ngài đã chọn thực hiện một chuyến đi đến Jerusalem tại Lễ Vượt qua, thời điểm mà rất nhiều người sẽ tụ tập trong thành phố.
Tại sao Chúa Giêsu đã đưa ra một lựa chọn nguy hiểm như vậy? Quyết định đi đến Jerusalem đánh dấu sự kết thúc của sứ vụ Galilê của Chúa Giêsu. Hành động này được xem như một cử chỉ tượng trưng cho sự từ chối rõ ràng của Ngài để chấp nhận cách thức của một vị cứu tinh chính trị. Mặc dù vậy, các môn đệ vẫn đặt hy vọng vào một vương quốc trần gian. Sự thất vọng của Chúa Giêsu kèm thêm với sự mù quáng của họ đã trở thành một chủ đề lập đi lập lại trong các tường thuật phúc âm về hành trình Jerusalem. Mọi người có thể tung hô Ngài như một người làm phép lạ, vua hay vị cứu tinh, nhưng họ vẫn không hiểu được thông điệp và sứ mệnh thực sự của Ngài.
Chúa Giêsu nhận ra rằng sứ mệnh tuyên bố triều đại của Thiên Chúa trên trái đất sẽ không đạt được thông qua nhiều phương cách tương tự. Các chiến lược khác nhau phải là cần thiết. Chúng ta thấy rằng Chúa Giêsu trở nên đối đầu hơn trong cách tiếp cận của mình (cảnh đền thờ); Các cách giảng dạy triệt để của Ngài trở nên nhắm vào trung tâm hơn. Jerusalem, trung tâm biểu tượng của Israel, là nơi thích hợp để Chúa Giêsu tuyên báo thông điệp của Người. Có lẽ Chúa Giêsu nghĩ rằng thủ đô tôn giáo này sẽ cởi mở hơn với những lời dạy của mình. Chuyến đi khải hoàn của Ngài đến Jerusalem cho thấy một sự nhiệt tình ban đầu của dân chúng – nhưng, một lần nữa, mọi người đã vỡ mộng khi biết rằng Chúa Giêsu không có ý định trở thành một vị cứu tinh chính trị.

Phong cảnh và đồi Galilee

Trong thực tế, thủy triều nhanh chóng biến đổi. Người chiến thắng trở thành người chết! Vẫn còn chỗ cho Chúa Giêsu rút lui. Tuy nhiên, cho đến bây giờ Ngài biết rằng một cuộc rút lui khỏi Jerusalem sẽ là một cuộc rút lui của Ngài ra khỏi sứ mạng tuyên bố triều đại của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người. Dù sao trong mọi trường hợp, Ngài đã quá nổi tiếng; Có rất ít cơ hội để ẩn núp trong những ngọn đồi của Galilê. Và lựa chọn trốn thoát khỏi nhiệm vụ không phải là một hành động mà Chúa Giêsu sẽ tự cho phép. Vì vậy, trước sự phản đối ngày càng thù địch, Chúa Giêsu ngày càng chấp nhận rằng điều có thể xảy đến của cái chết xa xôi trước đây đã trở thành một hiện thực sắp xảy ra. Sau đó, nhận thức ra được rằng không còn lối thoát; Cái chết chắc chắn.
Bất chấp cái chết dã man mà Chúa Giêsu phải trải qua, Ngài cũng phải đối mặt với câu hỏi không thể tránh khỏi là làm thế nào để hòa giải thực tại sắp xảy ra này với thông điệp về tình yêu và sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Làm thế nào tình yêu của Thiên Chúa có thể cho phép một cái chết đau đớn và dữ dội như vậy? Làm thế nào triều đại của Thiên Chúa có thể đạt được thông qua sự xấu xa và bất công như vậy? Chúa Giêsu, người hiểu mình ít nhất là một đặc phái viên của Thiên Chúa, không thể tránh khỏi phải đối mặt với những câu hỏi như vậy.

Khi đánh giá phản ứng của Chúa Giêsu, chúng ta nên cẩn thận để tránh hai thái cực này. Đầu tiên, chúng ta nên tránh cách tiếp cận nói rằng Chúa Giêsu đã đi đến cái chết của mình với cảm giác tuyệt vọng và hoàn toàn bị Thiên Chúa bỏ rơi. Những lời của Thánh vịnh được gán cho Chúa Giêsu trên Thập giá – “Chúa ơi, Chúa ơi, tại sao Ngài lại từ bỏ con?” -, ngay cả khi lịch sử, phải được đọc theo nghĩa hoàn chỉnh của Thánh vịnh, tận cùng rằng, đây là một lời cầu nguyện tin cậy vào Thiên Chúa bất chấp sự xấu xa bao quanh chúng ta. Toàn bộ cuộc đời của Chúa Giêsu đã được sống trong đức tin của lòng trung thành hoàn toàn của Thiên Chúa. Đức tin như vậy sẽ không từ bỏ Chúa Giêsu ngay cả trong hoàn cảnh bi thảm nhất về sự đóng đinh đẫm máu của Người.

Thứ hai, điều quan trọng nhất là chúng ta không vẽ Chúa Giêsu đi đến cái chết của mình như một nạn nhân thụ động, người đã hoàn thành thực thi một cách mù quáng một kế hoạch thiêng liêng đã được quy định trước. Thật sai lầm khi nghĩ rằng Chúa Giêsu, con người lịch sử có khả năng tham dự vào ý muốn của Thiên Chúa đối với Ngài. Chúa Giêsu đã quyết định cuộc sống của mình theo cách mà tất cả chúng ta làm: khi đối mặt với sự không chắc chắn và rủi ro. Ngài cầu nguyện vì biết rằng Ngài sẽ hiểu được ý của Cha Ngài và để tìm ra những quyết định đúng đắn sau kết quả lời cầu nguyện và sự suy xét rỏ ràng của mình. Nhận thức được những rủi ro, Chúa Giêsu đã đưa ra quyết định quan trọng để đưa sứ mệnh của mình đến trung tâm của Do Thái giáo. Bây giờ Ngài biết mình phải sống với hậu quả của quyết định đó, bao gồm cả cái chết.

Các sự kiện xung quanh bữa ăn tối cuối cùng và nỗi đau đớn trong vườn được ghi lại theo cách như vậy để cho thấy rằng Chúa Giêsu đã tiến tới cá chết của mình hoàn toàn tự do và có đắn đo – không phải vì Ngài chủ động chọn cái chết, mà vì Ngài tiếp tục dấn thân vào sứ mệnh của vương quốc trước sự đối lập và sự dữ xấu xa. Hành động của chén và bánh mì trong ‘bữa ăn tối cuối cùng’ tượng trưng cho toàn bộ cuộc đời của Chúa Giêsu, một cuộc đời sống trong sự phục vụ yêu thương của người khác. Bây giờ Chúa Giêsu bị thử thách để kết hợp sự thất bại của sứ mệnh và cái chết sắp xảy ra của mình vào cuộc sống ‘phục vụ trong tình yêu’. Nói cách khác, cái chết của Chúa Giêsu được đánh dấu bằng chính thái độ cấu thành nên toàn bộ cuộc đời Ngài. Có lẽ Chúa Giêsu chỉ đơn giản tin rằng những lời hứa của Thiên Chúa sẽ được thực hiện mặc dầu cái chết của Ngài và sự thất bại rõ ràng của sứ mệnh của Ngài. Hoặc có thể là Chúa Giêsu đã nhìn thấy một cách che giấu rằng cái chết của Ngài sẽ là ‘tiền chuộc cho nhiều người’, đó là một sự kiện mà Thiên Chúa sẽ sử dụng để mang lại cho vương quốc – cộng đồng của công lý, tình yêu và hòa bình.

Diễn Giải cái chết của Chúa Giêsu

Trong phong trào Chúa Giêsu thời tiên khởi, sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu đã được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Đối với một số người, cái chết của Chúa Giêsu được coi là một dấu hiệu cho thấy Ngài là nhà tiên tri cánh chung – tử đạo. Vì rốt cuộc, truyền thống Do Thái chứa đầy những câu chuyện trong đó các tiên tri thực sự đều bị giết. Việc Chúa Giêsu bị giết cho thấy Ngài là nhà tiên tri thực sự, trên thực tế, là một nhân vật dứt khoát hoặc cánh chung. Cách diễn giải này không quy định bất kỳ ý nghĩa thần học cụ thể nào đối với cái chết của Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu, con người và sứ mệnh của Người, đó là trọng tâm chính. Cái chết của Chúa Giêsu chỉ cho thấy Ngài là người là ‘ánh sáng thực sự của thế giới’.
Một cách diễn giải khác tập trung vào sự đau khổ của Chúa Giêsu như một dấu hiệu cho thấy Ngài là ‘người công chính’, Con Người đau khổ. Trước khi các tiên tri bị giết, họ bị từ chối và coi thường. Ở đây có một khuynh hướng coi đau khổ là dấu hiệu của sự chứng thực của Thiên Chúa đối với nhà tiên tri thực sự. Do đó, đau khổ của Chúa Giêsu được đọc theo kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong cách tiếp cận này, cái chết của Chúa Giêsu không có bất kỳ một mức độ nổi bật nào và bản thân nó không quan trọng về mặt thần học.
 

Xác Chúa Giêsu được đưa vào trong mồ – Nhà thờ Lodwar, Kenya


Tuy nhiên, cách tiếp cận thứ ba đã tập trung chủ yếu vào cái chết của Chúa Giêsu như một hành động cứu chuộc và chuộc tội. Điều này được tóm tắt trong công thức Phao-lô nói rằng Chúa Giê-su đã chết cho chúng ta vì tội lỗi của chúng ta (Rô-ma 4:25). Sự hiểu biết đã phát triển rằng sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu là “cứu thực tại”. Điều này có nghĩa là trọng tâm của sự chú ý đã chuyển từ con người và sứ mệnh của Chúa Giêsu sang thập tự giá như một ‘sự hy sinh chuộc tội’. Từ đó, phát triển một nền thần học về sự cứu rỗi, tập trung vào việc đóng đinh và đọc thập tự giá là một hành động tích cực của Thiên Chúa, “phơi bày tội lỗi của thế giới”.
 
Những cách giải thích khác nhau về nhân chứng cái chết của Chúa Giêsu đối với cuộc đấu tranh để làm thêm ý nghĩa từ hành động xấu xa đã đưa cuộc sống và sứ mệnh trần thế của Chúa Giêsu đến một kết thúc đột ngột và tàn nhẫn như vậy. Tuy nhiên, chúng ta hiểu ý nghĩa của thảm kịch con người này, điều bắt buộc là chúng ta phải xem nó trước tiên và quan trọng nhất là một bi kịch. Sau đó, tất nhiên, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng Thiên Chúa có thể và lật ngược được cái ác và biến nó thành điều tốt. Đây là những gì đã được gọi trong truyền thống Kitô giáo là “luật của thập giá”. Tuy nhiên, Thiên Chúa không tha thứ cho cái ác, chứ đừng nghĩ đó là yêu cầu để thực hiện kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa. Sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu, cùng với tất cả các trường hợp bạo lực và giết người khác, cuối cùng nằm ngoài khả năng giải thích hợp lý. Điều chúng ta có thể làm nhất là thừa nhận trong đức tin rằng mầu nhiệm tình yêu của Chúa cuối cùng còn mạnh hơn cả ác quỷ và cái chết. Cái chết của Chúa Giêsu cũng cần phải được công nhận trong ánh sáng này.

Phần 4: Phong Trào Chúa Giêsu trong thời tiên khởi

Sự phục sinh của Chúa Kitô (1510-15)

[Isenheimer Altarpiece] Matthias Grunewald
 
Sự phục sinh của Chúa Giêsu là lời khẳng định trung tâm của đức tin Kitô giáo vì ít nhất là lời tuyên bố của Phaolô với dân Cô-rinh-tô: “Nếu Chúa Kitô không được sống lại, đức tin của bạn là vô ích” (1Cr 15:17).
 

Tuy nhiên, nguồn gốc chính xác và sự hiểu biết về đức tin phục sinh rất khó giải thích. Sự phục sinh là một sự kiện lịch sử, thân xác, theo nghĩa đen như các sự kiện đã xảy ra trên trần gian? Hay là một ̣điều gì khác nữa?
 
Không giống như lúc chịu khổ hình đóng đinh trên thập tự, biến cố phục sinh của Chúa Giêsu không mang nhiều ý nghĩa trong lịch sử họa thuật phương Tây. Lý do chính đáng cho điều này là vì không ai thực sự đã nhìn thấy biến cố phục sinh! Một trong số các trường hợp ngoại lệ cho sự miễn cưỡng chung này của các họa sĩ trong việc mô tả sự phục sinh là bức tranh trên đây. Đó là một tác phẩm thời Phục hưng của một nghệ sĩ người Đức trong những năm đầu của cuộc Cải cách Tin lành.
 
Tấm tranh mô tả Chúa Kitô trong màu sắc vinh quang vươn lên từ ngôi mộ; ánh sáng đã làm chói mắt những người bảo vệ té xuống trong cơn sốc và mất hồn như ai đó khi bị nhìn vào một tia sáng mặt trời rực rỡ. Tấm ảnh có tham khảo rõ ràng những liên quan đến các tường thuật phục sinh trong Tin Mừng. Cũng có thể đây là một ám chỉ đến đức tin của những người thuộc nhóm cải cách khi họ đang được tiếp xúc với ánh sáng Cải cách-chân lý của Chúa Kitô.

  • Dẫn nhập
  • Kinh nghiệm Phục sinh
  • Niềm tin Phục sinh
  • Sự biến đổi hình thái của Chúa Giêsu
  • Sự biến đổi của các môn đệ
  • Từ Giêsu Phục sinh qua Ngôi vị thiêng liêng
  • Người bị đóng đinh và Phục sinh

Dẫn nhập

Nếu chúng ta có thể đề cập đến một phong trào Chúa Giêsu trong cuộc sống và sứ vụ trần thế, thì phong trào đó đã kết thúc đột ngột với sự kiện Ngài chịu đóng đinh bi thảm trên thập tự giá. Tuy nhiên, như lịch sử ghi lại, cái chết của Chúa Giêsu không phải là mẩu tin cuối cùng. Một cái gì đó đã xảy ra trong cuộc sống của các môn đệ Chúa Giêsu dẫn đến sự hình thành một phong trào mới của Chúa Giêsu đã tồn tại cho đến ngày nay. Cũng đúng khi kết luận rằng, trong tâm trí và những suy nghĩ của các môn đệ, một điều gì đó đã xảy ra với Chúa Giêsu sau khi Ngài chết, để giải thích cho được sự biến đổi lạ lùng và hoàn toàn bất ngờ của họ.

Nếu chúng ta muốn thâu đạt được phần nào hiểu biết về cách thức đức tin Kitô giáo nảy sinh từ nấm mộ Chúa Giêsu, chúng ta cần phải điều tra những kinh nghiệm Phục Sinh đã làm như thế nào để các môn đệ bấy giờ trải nghiệm được Chúa Giêsu khi ‘sống lại từ cõi chết’. Rồi tiếp đó, điều này sẽ dẫn đến một cuộc thảo luận về cách nào các Kitô hữu đầu tiên dẫn giải niềm tin Chúa Giêsu là Chúa Kitô và là Thiên Chúa (nghĩa là quá trình Kitô giáo của Tân Ước). Chúng ta cũng sẽ xem xét một số ý nghĩa của quá trình này đối với những người theo Chúa Giêsu ban đầu.

Kinh Nghiệm Phục Sinh

Điều đáng nói ngay từ đầu là không ai thấy – cũng không, đối với vấn đề đó, tuyên bố đã chứng kiến – sự phục sinh của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, những gì Tân Ước trình bày cho chúng ta là những câu chuyện về Chúa Giêsu ‘xuất hiện’ cho các môn đệ. Trong mẩu chuyện sớm nhất mà chúng ta có (1 Cor.15: 3-8), Phao-lô nói với chúng ta rằng Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi của chúng ta, đã được chôn cất, đã trỗi dậy vào ngày thứ ba, và sau đó ‘xuất hiện’ cho Cephas, cho nhóm mười hai, rồi với hơn năm trăm người, với James, và cuối cùng là cho chính Phao-lô. Ngoài điều này ra, Phao-lô cho thấy ít quan tâm đến chi tiết lịch sử.

Thoạt đầu, dường như các mẩu chuyện Tin Mừng đã cố gắng chứng thực bằng chứng của Paul với những dữ liệu lịch sử. Tuy nhiên, có rất nhiều chi tiết khác biệt, thậm chí mâu thuẫn với nhau, trong những câu chuyện về những gì đã xảy ra sau cái chết và chôn cất của Chúa Giêsu, để rồi còn lại cho chúng ta nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Trên thực tế, mẩu chuyện Mác-cô ban đầu không có câu chuyện xuất hiện; trong Mát-thêu, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở Galilê sau khi thăng thiên; ở Luke, sự xuất hiện xảy ra cùng ngày ở Jerusalem trước khi lên ngôi; ở Gioan, câu chuyện lại khác nữa. Các học giả Kinh Thánh thường đồng ý rằng những điều này và nhiều sự khác biệt khác trong các câu chuyện Phục Sinh chỉ ra thực tế rằng chúng ta đang đối đầu với các tác phẩm văn học hoặc thần học tinh vi phức tạp hơn là những cố gắng viết lịch sử.

Một lần nữa, chúng ta lại phải đối mặt với cùng một vấn đề mà chúng ta gặp phải trong nỗ lực phác họa một bức chân dung lịch sử về Chúa Giêsu thành Nazareth. Các sách phúc âm ít quan tâm đến lịch sử (những gì đã xảy ra) hơn là với thần học (Chúa đã tiết lộ cho chúng ta như thế nào trong những gì đã xảy ra). Khi nói đến tính lịch sử của các trải nghiệm Phục Sinh, chúng ta gặp khó khăn hơn nữa trong việc giải thích một sự kiện độc đáo xảy ra ngoài thế giới của kinh nghiệm tự nhiên thông thường. Điều chúng ta có thể làm hay nhất là ghi lại những cách hiểu phúc âm khác nhau về cách Chúa Giêsu tiếp tục sống vượt qua cái chết và cách các môn đệ trải nghiệm sự hiện diện biến đổi của Ngài.

Niềm Tin Phục Sinh

Niềm tin của người Do Thái chính thống vào thế giới bên kia bao gồm niềm tin vào sự bất tử của linh hồn và sự hồi sinh của thể xác vào ngày tận thế. Tuy nhiên, niềm tin của người Do Thái không có ý tưởng về sự phục sinh của cá nhân trước ngày tận thế. Về mặt này, điểm nổi bật là có nhiều cách khác nhau dùng để giải thích những gì đã xảy đến với Chúa Giêsu. Ngoài biểu tượng phục sinh, các Kitô hữu tiên khởi đã nói về Chúa Giêsu, vị thượng tế cao trọng trên trời, đấng xuất chúng hiện đang sống trong vinh quang, Chúa tể tương lai, trí tuệ thánh thiện. Đây là tất cả các cách để bày tỏ niềm tin vào thực tại mới sống lại của Chúa Giêsu đã vượt qua đức tin phục sinh bình thường của người Do Thái.

Nói cách khác, chính nó, biểu tượng phục sinh của người Do Thái không phải là một cách thích hợp để giải thích những gì đã xảy ra với Chúa Giêsu sau khi Ngài qua đời. Điều mà các tín đồ đầu tiên cố gắng tranh đấu để bày tỏ là một điều gì đó hoàn toàn kỳ lạ và bất ngờ đã xảy ra với Chúa Giêsu. Nó giống như những gì người Do Thái chính thống tưởng tượng xảy ra cho những người tốt lành đạo đức vào ngày tận thế ngoại trừ, trong trường hợp của Chúa Giêsu, điều ấy đã xảy ra. Trong thời ấy, niềm tin Kitô giáo vào những gì xảy ra với Chúa Giêsu đã được bày tỏ rằng Thiên Chúa đã cất Ngài ra khỏi cái chết. Tuy nhiên, trong bối cảnh thời Chúa Giêsu, đây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ. Điều đó cũng có nghĩa là sự hiểu biết về niềm tin phục sinh mang ý nghĩa mới và được mở rộng đến cho các môn đệ của Chúa Giêsu.

Ngôi mộ và nghĩa trang cổ xưa tại Jerusalem

Sự biến đổi hình thái Chúa Giêsu

Bất kể những khác biệt về chi tiết lịch sử, các sách phúc âm chứng kiến ​​kinh nghiệm sự biến đổi hình thái của Chúa Giêsu đã cho Ngài sống vượt qua cái chết. Các câu chuyện cũng rõ ràng trong việc phân biệt cẩn thận sự biến đổi này của Chúa Giêsu với sự hồi sinh của thân xác (chẳng hạn như phép lạ sống dậy Lazarus của Chúa Giêsu). Chúa Giêsu thì mới và khác biệt. Ngài dường như không bị ràng buộc bởi thời gian và không gian. Thay vào đó, Ngài được miêu tả như là sống trong một trạng thái tồn tại mới với Thiên Chúa, điều đó được biểu hiện qua sự thay đổi cách Ngài xuất hiện với thế giới.

Mác-cô nói rằng “Ngài đã xuất hiện dưới hình thức khác” (16:12). Bức tranh mà chúng ta được đưa ra về Chúa Giêsu biến đổi thường giống như một linh hồn ‘đến’ và ‘đi’ theo cách không thể xảy ra đối với những sinh vật bình thường, ở trần gian (Luca 24: 31; Gioan 20: 19, 26). Trong nhiều câu chuyện xuất hiện, Chúa Giêsu không thể được nhận ra ngay lập tức.

Tuy nhiên, ngôn ngữ được sử dụng để mô tả Chúa Giêsu biến đổi nhấn mạnh sự liên tục của Ngài với Chúa Giêsu trần thế. Ở Gioan, Chúa Giêsu mời các môn đệ đến gặp và chạm vào Người (20: 20-27); trong Luca, Chúa Giêsu đi bộ, nói chuyện và ăn (24:39). Chính sự nhấn mạnh về thể chất của Chúa Giêsu phục sinh khiến các môn đệ không còn nghi ngờ gì nữa – bất chấp sự miễn cưỡng ban đầu của Thomas – rằng Chúa phục sinh cũng chính là Chúa Giêsu bị đóng đinh và chôn cất. Phao-lô chỉ đơn giản tuyên bố Chúa Giê-su là người bị đóng đinh và phục sinh.

Đối với Tân Ước, sau đó, sự kiện Phục sinh đại diện cho sự mặc khải mới, sâu sắc và hoàn toàn bất ngờ rằng Chúa Giêsu đã sống lại sau cái chết và được Thiên Chúa biến thành một trạng thái sống mới. Đây là lần đầu tiên và trước hết là một sự kiện xảy ra với chính Chúa Giêsu và không có tiền lệ. Không có gì ngạc nhiên khi các Tân Ước cố gắng cung cấp một cấu trúc ngôn ngữ và khái niệm cần thiết để truyền đạt cái kerygma hay tin mừng này. Không thể tránh khỏi, ngôn ngữ của nó phải giàu trí tưởng tượng và biểu trưng khi ngôn ngữ đó tìm cách truyền đạt một thực tế tượng trưng cho một bước đột phá trong ý thức của con người và tôn giáo.

Đối với chúng ta, như đối với chính các môn đệ, bước đột phá này trong sự hiểu biết về những gì đã xảy ra với Chúa Giêsu ngoài cái chết vẫn còn trong cõi bí ẩn. Bên này của cái chết, chúng ta có thể nhìn thoáng qua thực tế đầy đủ của những gì được dự định bởi sự phục sinh, thăng thiên và ngôn ngữ tôn vinh này. Tuy nhiên, những gì được ngụ ý bởi kinh nghiệm Phục Sinh không phải là nói chuyện thần thoại. Như Phao-lô đang đau đớn để giải thích: ‘Nếu Chúa Kitô không được sống lại, đức tin của bạn là vô ích’ (1 Cor.15: 17). Tường thuật về sự phục sinh của Mát-thêu cũng được thiết lập để chống lại những người cố ý làm giảm sự phục sinh xuống mức độ truyền thuyết ngụ ngôn. Và truyền thống ngôi mộ trống, được phổ biến ở tất cả các sách phúc âm, làm chứng cho niềm tin của các môn đệ rằng Chúa Giêsu thực sự đã ‘sống lại’ từ cõi chết.

Tất nhiên, khả năng của chúng ta để đào sâu thực tế về mầu nhiệm biến đổi của Chúa Kitô, tất nhiên, phụ thuộc vào niềm tin và hệ thống giá trị của chính chúng ta. Ví dụ, điều này sẽ rất ít có ý nghĩa đối với người vô thần.

Tuy nhiên, đối với một người tin tưởng vào mầu nhiệm thiêng liêng và tin rằng họ có thể trải nghiệm được ân sủng của Thiên Chúa trong cuộc sống này, thì họ đã có một số nhận biết hoặc dự kiến trước của cuộc sống phục sinh. Rõ ràng, Chúa Giêsu trần gian đã trải nghiệm thực tế về mầu nhiệm thiêng liêng một cách sâu sắc đến mức tin tưởng vào Cha trên trời của mình trước sự đau khổ vô nhân đạo và cái chết dã man. Chính nó đối đầu với nền tảng cho sự minh oan của Thiên Chúa về cái chết của Chúa Giêsu cần phải được đặt ra.

Sự minh oan, biến đổi hoặc phục sinh của Chúa Giêsu sau đó là một bất ngờ và ân sủng; nhưng nó là một khẳng định chứ không phải là vi phạm vào khát vọng sâu xa nhất của con người và tôn giáo.

Trong một số ý nghĩa thực tế, Chúa Giêsu vẫn ‘sống’ với Thiên Chúa, với một Thiên Chúa hiện diện trong thế giới và lịch sử loài người, ban tặng cho họ sự sống. Thiên Chúa, thế giới và nhân loại không bao giờ có thể tách rời. Bây giờ, nếu chúng ta tin rằng Chúa Giêsu vẫn ‘sống’ với Mầu nhiệm thiêng liêng, thì chúng ta cũng có thể tin rằng Người vẫn ‘sống’ với chúng ta. Nói cách khác nếu bạn muốn, Chúa Giê-su đã thực hiện đoạn hồi sinh cuối cùng từ trạng bình thường tự nhiên này đến một trạng trung tâm khác. Ngài vẫn ở với chúng ta, nhưng theo cách của Thiên Chúa: như một sức mạnh phục hồi của công lý, tình yêu và hòa bình.[1]

Do đó, trạng thái tồn tại mới của Chúa Giêsu với Thiên Chúa biến đổi thay vì cắt đứt mối quan hệ của Ngài với thế giới và lịch sử loài người. Trong khi cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu trần thế bị giam hãm trong một vài năm ngắn ngủi ở Palestine vào thế kỷ thứ nhất, cuộc đời của Chúa Giêsu phục sinh có thể biến đổi toàn bộ vũ trụ bằng công lý, tình yêu, hòa bình – và những hoa trái khác của Chúa Thánh Thần. Theo cách này, sự vắng mặt thực sự của Chúa Giêsu đồng thời là sự hiện diện thiên đàng mới trong thế giới và lịch sử loài người.

Mặc dù có rất ít điều chúng ta có thể nói rõ ràng về phương thức tồn tại mới của Chúa Giêsu với Thiên Chúa, thế giới và chính chúng ta, nhưng chúng ta biết từ những tín đồ đầu tiên rằng đó là lần đầu tiên và trước hết là một kinh nghiệm chứa đầy Thần khí – cho cả Chúa Giêsu và cho họ. Họ biết Chúa Giêsu sống với Thiên Chúa và vẫn hiện diện trên thế giới vì Thánh Linh của Chúa Giêsu được truyền đạt cho họ. Bây giờ chúng ta chuyển sang một cuộc thảo luận về chiều kích khác của sự kiện Phục sinh trong đó sự biến đổi của Chúa Giêsu được truyền đạt cho các môn đệ.


[1] William Thompson, The Jesus Debate: A Survey and Synthesis ̣(New York: Paulist Press, 1985), 228f.

Sự Biến đổi của các môn đệ

Đó là niềm tin vững chắc của Giáo hội sơ khai rằng Chúa Giêsu phục sinh đã thể hiện mình với các môn đệ thông qua một số cuộc gặp gỡ thực sự, lịch sử, mặc khải. Những cuộc gặp gỡ này thông thường được gọi – mặc dù cũng không phải hoàn toàn mọi lúc – là ‘sự xuất hiện’ của Chúa Giêsu phục sinh.

Trong một nỗ lực để mô tả những cuộc gặp gỡ này, Paul sử dụng động từ Hy Lạp “Ngài xuất hiện” (ophthe) được liên kết với khái niệm tiếng Do Thái về thần học với ý nghĩa hai lần: một sáng kiến ​​thực tế, khách quan về phía Thiên Chúa được biết đến và; một phản ứng chủ quan trong đức tin thay mặt cho những người trải qua kinh nghiệm tôn giáo này. Cả hai chiều kích được nhấn mạnh trong các tường thuật gặp gỡ sau khi phục sinh.

Như được ghi lại trong Tân Ước, các cuộc gặp gỡ được trình bày theo một khuôn mẫu khá ổn định: các môn đệ tuyệt vọng và sợ hãi; Sự hiện diện của Chúa Giêsu làm họ ngạc nhiên; Chúa Giêsu đưa ra một số hình thức chào hỏi; các môn đệ nhận ra Chúa Giêsu; một lời chỉ thị hoặc ủy thác của Chúa Giêsu kết thúc cuộc gặp gỡ. Quá trình cũng có thể được mô tả theo mô hình ba lần mà chúng ta đã sử dụng để khám phá các dụ ngôn của Chúa Giêsu: Ước Vọng – cái chết của Chúa Giêsu là ngôn từ cuối cùng khiến các môn đệ tuyệt vọng hay chẳng còn gì mong đợi nữa cả; Đảo ngược – Chúa Giêsu bị đóng đinh hiện đang sống với họ trong trạng thái biến đổi; Hành động – cuộc sống cá nhân của chính các môn đệ được biến đổi để giờ đây họ trở thành những người tuyên bố không sợ hãi về chiến thắng của Chúa Giêsu trước cái chết.

Các môn đệ hiểu mình được trao quyền bởi cuộc sống mới mà Chúa Giêsu chia sẻ với Thiên Chúa. Sự thay đổi mạnh mẽ vượt qua họ – từ tuyệt vọng và hèn nhát đến đức tin và lòng can đảm – có thể được mô tả theo kinh nghiệm chuyển đổi tôn giáo. Một lần nữa, chúng ta cần nhấn mạnh rằng chúng ta đang đối phó với một khoảnh khắc ân sủng khách quan thực sự nảy sinh từ sáng kiến ​​thiêng liêng: Chúa Giêsu đã sống lại. Tuy nhiên, kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh này không vi phạm khuynh hướng chủ quan của các môn đệ. Chính vì lý do này mà chỉ những người ‘có đức tin’, nghĩa là những người cởi mở với việc truyền đạt bí ẩn thiêng liêng trong cuộc sống của họ, mới là những người có khả năng ‘nhìn thấy’ Chúa phục sinh.

Sự mô tả về những cuộc gặp gỡ mặc khải này bao gồm từ ý thức về mối tương giao và ơn cứu độ (Lk.24: 13-25; Ga 21: 1-14), đến một cuộc sống đoàn kết mới trong Thánh Linh (Mt.28: 16-20; Ga 20: 22) và những kinh nghiệm mới về hòa bình và tha thứ (Ga 20: 19-23). Những trải nghiệm như vậy tương quan với những mong mỏi sâu sắc nhất của chúng ta về công lý, tình yêu, hòa bình, sự hoàn thành của con người và ‘cuộc sống phục sinh’. Một mặt, chúng đến như một món quà của sự sống và sự cứu rỗi. Mặt khác, chúng không thể bị áp đặt; chúng cần được đáp lại trong tự do và tình yêu. Điều này cũng đúng đối với các môn đệ, trong một số văn bản, cũng đấu tranh trong tự do và thích nhận ra Chúa Giêsu và trải nghiệm những món quà mà Người ban tặng.

Sự biến đổi cuộc sống của các môn đệ này có một khía cạnh hai mặt: nó cho phép họ vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác tội lỗi khi từ bỏ Chúa Giêsu – kinh nghiệm của ân sủng như sự tha thứ; và nó trao quyền cho họ tiếp tục ‘công việc’ của Chúa Giêsu trong cuộc đấu tranh chống lại tội lỗi và bất công. Giống như chính Chúa Giêsu, các môn đệ trải qua một cái gì đó của một đoạn hồi sinh biến đổi từ một trạng thái bình thường tự nhiên đến một ‘trạng thái trung tâm khác’. Đối với họ, để trải nghiệm Chúa Giêsu phục sinh và những món quà cứu rỗi của Người là được Người ‘ủy thác’ để tiếp tục công việc cứu độ của mình.

Những cuộc gặp gỡ này không chỉ là những khoảnh khắc nhận ra những gì Chúa Giêsu tích cực là, đã là và đang làm việc cho. Chúng cũng là những giây phút giải thoát khỏi những gì trái ngược với Ngài, và vẫn còn rất đối lập. Chúng là những khoảnh khắc tự do, những khoảnh khắc nhận ra cách Chúa Giêsu hành động để cứu chúng ta khỏi sự áp bức và tội lỗi. Các môn đệ cũng bị thúc đẩy tương tự (để tiếp tục công việc giải phóng này của Chúa Giêsu) như ủy nhiệm của họ.[1]

Các kinh nghiệm Phục Sinh xác nhận những gì các môn đệ đã trải qua một cách che giấu trong cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu, cụ thể, rằng ông là đặc phái viên của Thiên Chúa về hòa bình, tình yêu và công lý. Trong cuộc gặp gỡ của họ với cùng một Chúa Giêsu bây giờ đã trải nghiệm theo một cách mới, cuộc sống của các môn đệ được biến đổi để họ trở thành những tác nhân mới của hành động giải phóng của Thiên Chúa cho vương quốc. Tuy nhiên, thay vì nói về vương quốc của Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã làm, các môn đệ bắt đầu tập trung tuyên bố về chính Chúa Giêsu.

Do đó, chúng ta có thể nói về Phục sinh đến các khía cạnh: sự biến đổi của Chúa Giêsu (từ cái chết sang cuộc sống); sự biến đổi của các môn đệ (từ sự hoài nghi và sợ hãi sang đức tin và lòng can đảm); và sự chuyển đổi thông điệp (từ vương quốc sang Chúa Giêsu). Tâm điểm của cả ba sự biến đổi là sự phục sinh và biểu hiện của nó cho các môn đệ trong cuộc gặp gỡ của họ với Chúa phục sinh. Những cuộc gặp gỡ cá nhân này, mặc dù được truyền đạt cho chúng ta qua biểu tượng và ẩn dụ, là những kinh nghiệm thực sự về ân sủng và sự cứu rỗi xác nhận sự hiện diện độc nhất của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu, một sự hiện diện tiếp tục vượt ra ngoài ngôi mộ và dành cho tất cả những ai tin.


[1] Thompson, Cuộc tranh cải về Chúa Giêsu (The Jesus Debate), 222f.

Từ Giêsu phục sinh qua ngôi vị thiêng liêng

Ngay cả kinh nghiệm về ‘Chúa Giêsu phục sinh’ cũng không tự động dẫn đưa các Kitô hữu đầu tiên ban cho được sự tôn vinh ngôi vị thiêng liêng của Chúa Giêsu. Rốt cuộc, những Kitô hữu tiên khởi này đã hiểu Chúa Giêsu trong khuôn khổ của chủ nghĩa độc thần nghiêm khắc của người Do Thái (niềm tin vào một Thiên Chúa). Hơn nữa, sự hiểu biết của Chúa Giêsu trần thế dường như ngụ ý một mối quan hệ thân mật hơn là bình đẳng với Thiên Chúa (ví dụ, mối quan hệ Abba không đưa ra yêu sách về địa vị thiêng liêng). Tuy nhiên, những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã thực hiện qua Chúa Giêsu, cả trong cuộc sống trần thế và bây giờ trong cuộc đời phục sinh của Ngài, chắc chắn đã dẫn dắt các môn đệ đầu tiên nói về Chúa Giêsu một cách mới mẻ và xuất chúng. Ngài không phải là con người bình thường mà là nơi Ngài bí ẩn thiêng liêng được thể hiện một cách độc đáo.

Trên thực tế, có nhiều Kitô học Tân Ước phát triển trong nỗ lực sau Phục sinh để giải thích mầu nhiệm Chúa Giêsu đã và đang là ai.

Kitô học như vậy luôn phản ánh mối quan tâm văn hóa và tôn giáo của các cộng đồng cụ thể. Đồng thời, chúng phát triển trong một môi trường phụng vụ hoặc thú nhận tội lỗi, nghĩa là, thể hiện kinh nghiệm tôn giáo mới của mọi người về sự hiện diện cứu rỗi của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu. Đổi lại, những kinh nghiệm này được diễn giải theo các danh mục đã biết và ngôn ngữ quen thuộc của các cộng đồng khác nhau. Ngay từ đầu, đơn giản là có một số nhiều cách diễn giải thú nhận, ngôn ngữ và văn hóa về những gì Chúa Giêsu làm và Ngài là ai.

Các cộng đồng sớm nhất sau Phục sinh có xu hướng sử dụng Kitô học hai giai đoạn để phân biệt Chúa Giêsu trần thế và phục sinh. Chúa Giê-su trần thế được mô tả trong các phạm trù tiên tri của Kinh thánh như ‘tôi tớ’, ‘thánh’ hay ‘công bình’ và có lẽ, tiên tri giống như Mô-sê. Các danh hiệu Kitô học khác – như Con Thiên Chúa, Chúa Kitô (Christos) và Chúa (Kyrios) -, được dành cho Chúa Giêsu phục sinh, người có kinh nghiệm sống lại sau khi chết, được đưa vào vinh quang, và đang chờ đợi để trở về. Những danh hiệu và mô tả về Chúa Giêsu phục sinh nhận ra rằng Ngài thực thi một số loại quyền lực đặc biệt của vua, hoàng gia hoặc thần thánh.

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng, trong các cộng đồng Palestine thời kỳ đầu, kinh nghiệm về Chúa Giêsu phục sinh được diễn giải theo niềm tin tận thế của người Do Thái. Điều này có nghĩa là sự nhấn mạnh vào tương lai, sự sớm trở lại của Chúa Giêsu, “Con Người trên trời”, Người sẽ đến trong quyền lực và vinh quang. Kitô học phục sinh-parousia này được thể hiện một cách phụng vụ trong lời cầu nguyện maranatha: ‘Hãy đến với Chúa Giêsu’. Tuy nhiên, khi các cộng đồng Kitô giáo đang phải đối mặt với sự chậm trễ trong sự trở lại của Chúa Giêsu, trọng tâm chuyển từ tương lai sang hiện tại.

Các Kitô hữu Do Thái nói tiếng Hy Lạp đã sớm tập trung phụng vụ của họ vào sự tôn cao hiện tại của Chúa Giêsu phục sinh: ‘Chúa Giêsu là Chúa’. Các danh hiệu được gán cho Chúa Giêsu – bao gồm Chúa Kitô, Chúa và Con Thiên Chúa – đảm nhận một sự hiểu biết phát triển về hiện tại, vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và thế giới. Chúa Giêsu sẽ không chỉ trở lại vào cuối thời gian để phán xét thế giới, mà giờ đây đã thực hiện một sự hiện diện cứu rỗi trên thế giới. Một sự phát triển hơn nữa là những danh hiệu Kitô giáo này, vốn được dành riêng cho sự tồn tại sau Phục sinh của Chúa Giêsu, giờ được chiếu lại vào cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu. Chẳng hạn, Chúa Giêsu lịch sử được công nhận là ‘Đấng cứu thế’ mà người Do Thái đã chờ đợi; Phao-lô nói rằng Ngài chết như Christos (1 Cor.15: 3); và sau đó, “Chúa Kitô” đơn giản trở thành một phần của tên riêng của Chúa Giêsu trong toàn bộ sự nghiệp của mình (Rm.1: 8).

Tư duy Hy Lạp cũng được thể hiện rõ trong sự phát triển của Kitô học ba giai đoạn trở nên phát triển cao trong cộng đồng Kitô hữu Hy Lạp. Kitô học này được thể hiện rõ trong phần mở đầu của phúc âm của John (1: 1-14) nơi Chúa Giêsu Kitô được xác định là: Lời của Thiên Chúa tồn tại qua đó mọi sự sáng tạo được đưa vào sự tồn tại; Ngôi Lời đã trở nên xác thịt trong con người, Chúa Giêsu lịch sử nhờ phép lạ nhập thể; và Chúa tể trị vì vinh quang sau Phục sinh. Lời-Kitô học ba giai đoạn này của John – tiền kiếp, nhập thể và xuất thần – được nhân đôi trong vũ trụ-Kitô học trước đó của các bài thánh ca Phao-lô (Phil.2: 6-11; Col.1: 15-20). Những Kitô học cao này có xu hướng đọc toàn bộ vũ trụ – từ khi thụ thai cho đến khi hoàn thành – xét về vai trò trung gian của Chúa Giêsu là Chúa Kitô và Chúa cũng như ‘hình ảnh’, ‘từ’ hay ‘khôn ngoan’ của Thiên Chúa.

Những Kitô học này cũng có xu hướng đẩy sự tôn cao của Chúa Giêsu vào đời sống lịch sử và chức vụ của Ngài. Đây rõ ràng là trường hợp với toàn bộ phúc âm của Gioan như với các câu chuyện thời thơ ấu, các mẩu chuyện rửa tội và các cảnh biến hình trong các sách phúc âm synoptic (Mark, Matthew và Luke). Những Kitô học này nhìn xa hơn những gì các môn đệ đã trải nghiệm về Chúa Giêsu trong suốt cuộc đời trần thế của mình và thậm chí vượt xa những gì Chúa Giêsu đã thấy về chính mình. Tuy nhiên, những sự phát triển này không nên được coi là làm sai lệch Chúa Giêsu lịch sử, mà như làm mất đi thực tại bên trong bản sắc trần thế của Chúa Giêsu dưới ánh sáng của những kinh nghiệm Phục sinh. Họ chứng kiến niềm tin của giáo hội ban đầu rằng Chúa Giêsu trần thế và phục sinh không phải là hai, mà là một và cùng một thực tại.

Cuối cùng, nếu thận trọng, Tân Ước thừa nhận địa vị thiêng liêng của Chúa Giêsu một cách rõ ràng đến mức nói rằng Chúa Giêsu là Theos theo nghĩa ngang hàng Thiên Chúa (Jn.1; Jn.20; Heb.1: 8-10). Chính xác làm thế nào điều này tương thích với niềm tin độc thần được để lại cho các thế hệ tiếp theo để giải thích. Tuy nhiên, trước khi bắt đầu một cuộc thảo luận về sự phát triển của Kitô học trong những thế kỷ Kitô giáo đầu tiên, chúng ta cần phải thừa nhận rằng câu hỏi về trạng thái thiêng liêng của Chúa Giêsu không nên ghi đè lên toàn bộ sự giải thích của chúng ta về phong trào của Chúa Giêsu thời kỳ đầu. Trong một số cách, phong trào này từ các danh hiệu Kitô giáo thấp hơn đến cao hơn để chỉ định ngôi vị Chúa Giêsu là một hiện tượng mơ hồ bởi vì một cách chính xác nó có xu hướng làm lu mờ khía cạnh con người của mầu nhiệm Chúa Kitô. Trên thực tế, đây là một vấn đề đối diện với chính phong trào Giêsu tiên khởi.

Người chịu đóng đinh và phục sinh

Tập trung quá mức vào bản chất xuất chúng của tình trạng thiêng liêng của Chúa Giêsu có nguy cơ làm giảm toàn bộ sức mạnh của thông điệp mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Như chúng ta đã thấy, đây là thông điệp giải phóng của cộng đồng vương quốc của Thiên Chúa, một cộng đồng vương quốc của những người được kêu gọi chịu đựng và đấu tranh để biến tầm nhìn của Chúa Giêsu về công lý, tình yêu và hòa bình trở thành hiện thực trong thế giới nơi áp bức, bất công và gian tà thường ngự trị. Chính Phao-lô đã đánh giá cao điều này một cách sắc sảo nhất trong Kitô học của mình về Người bị đóng đinh và phục sinh. Đây cũng là Kitô học của nhiều cộng đồng Kitô giáo sớm nhất.

Đối với Paul, sự kiện Phục sinh không hủy bỏ cuộc đấu tranh trần thế của Chúa Giêsu chống lại các thế lực xấu xa dẫn đến cái chết đầy bạo lực, đẫm máu của Ngài. Trong thực tế, điều ngược lại chính đó là một trường hợp: chính xác là Chúa Giêsu bị đóng đinh đang trị vì là Chúa. Sự sống lại tiếp tục và xác nhận cuộc sống của Thập giá. Bản tính tiên tri và quyền hành của Chúa Giê-su luôn được đọc theo thuật ngữ ‘đầy tớ Kitô học’ của Phao-lô: Chúa Giê-su sống cuộc sống của mình cho người khác và kêu gọi họ phục vụ lẫn nhau với Ngài. Đây là khía cạnh quan trọng đối với Kitô học tự do, triệt để của Phao-lô: chỉ trong tình yêu tự hiến qua thập giá đau khổ thay cho người khác mà vương quốc của tình yêu phổ quát của Thiên Chúa có thể đến.

Để duy trì sự sống hai lần của Chúa Giêsu bị đóng đinh và phục sinh, Phao-lô vẫn giữ được sự căng thẳng gay gắt trong thông điệp của Chúa Giêsu giữa ‘đã’ và ‘chưa’ của vương quốc. Ông cũng mắng mỏ Corinthians vì đã xác định vương quốc bằng những màn phô diễn sức mạnh thần thánh thay vì tập trung vào mối quan tâm của họ trong việc xây dựng một cộng đồng tình yêu và dịch vụ. Phao-lô tin rằng, trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã bắt đầu vương quốc công lý và hòa bình. Tuy nhiên, ông cũng nhận ra xu hướng đáng tiếc trong một số phần nhất định của phong trào Chúa Giêsu để hành động như thể Chúa Giêsu đã hoàn thành công việc. Trong thực tế, lý do cho phong trào của Chúa Giêsu là để thực hiện công việc mà Chúa Giêsu đã bắt đầu.

Sự mất đi khía cạnh tự do, quan trọng của phong trào Chúa Giêsu là cả một mối quan tâm đối với Phao-lô và một cái bẫy mà chính thánh nhân đôi khi rơi xuống. Ít nhất, có bằng chứng cho thấy thái độ của Phao-lô đối với phụ nữ, chẳng hạn, không hoàn toàn phù hợp với Kitô học tình yêu của Phao-lô, chống lại mọi hình thức áp bức và bất công. Trên thực tế, những lá thư trước đó cho thấy cam kết của Phao-lô đối với sự tự do và phẩm giá bình đẳng của phụ nữ với đàn ông: phụ nữ là đồng nghiệp của Phao-lô, không phải là cấp dưới (Rm.16: 6,12); họ là những người lãnh đạo các nhà thờ cộng đồng (Phlm.2; 1 Cô.16: 19); Junia thậm chí còn được Phao-lô gọi là ‘tông đồ’ (Rm.16: 7); và Phoebe là một ‘phó tế’ cho cả giáo hội (Rm.16: 1f.).[1]

Những văn bản này trái ngược hoàn toàn với những lời khuyên răn của Phao-lô đối với phụ nữ (1 Cô-rinh-tô 11: 2-26; 14: 33-36) khi họ được yêu cầu đóng một vai trò rất phụ cho đàn ông trong xã hội như trong hội đồng Kitô giáo.

Ở đây, dường như, Phao-lô quan tâm nhiều hơn đến việc làm cho phong trào Kitô giáo được chấp nhận nơi các tiêu chuẩn văn hóa của thế giới rộng lớn hơn. Đó là một cái bẫy mà Giáo hội nguyên thủy thường bị vấp phải. Tất nhiên, khó có bất kỳ chuyển động nào để giữ được sự tinh khiết và tươi mới của sự khởi đầu của nó. Để chịu đựng, các phong trào cần luật pháp và cấu trúc; họ cần được thể chế hóa. Chúng ta đã thấy đủ để nhận ra rằng quá trình này đã bắt đầu từ thời của các tác phẩm Tân Ước và một phần của cái giá phải trả này là sự mất đi của khía cạnh giải phóng triệt để, đặc trưng cho phong trào của Chúa Giêsu trong nguồn gốc của nó.

Khi chúng ta chuyển sang đánh giá về những hiểu biết lịch sử và đương đại về phong trào Chúa Giêsu và mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta cần lưu giữ ký ức về Chúa Giêsu lịch sử – người rao giảng vương quốc và chịu đựng và chết – cũng như sống lại Chúa Kitô vinh quang được tuyên bố trong đức tin Phục sinh. Tin đồn về Thập giá và kỳ quan của sự phục sinh là hai chiều kích không thể tách rời của một mầu nhiệm của Chúa Giêsu (Chúa Kitô).


[1] Xin đọc Elizabeth Schussler Fiorenza, In Memory of Her: A Feminist Theological Reconstruction of Christian Origins – Tưởng nhớ về Cô: Tái thiết thần học nữ quyền về nguồn gốc Kitô giáo (New York: Crossroad, 1983), 205-241.

 Xin đề nghị đọc thêm:

Brennan Hill, Jesus the Christ: Contemporary Perspectives – Đức Giêsu Kitô: Quan điểm đương đại, Rev. ed. (Eugene, Oregon: Wipf & Stock, 2004), 7; trang 124-139.

Anthony Kelly, The Resurrection Effect – Hiệu ứng phục sinh (Maryknoll NY: Orbis Books, 2008).

Orm Rush,“Interpreting Jesus” in D. Casey, G. Hall & A. Hunt (eds.), Foundations of Christian Faith: An Introduction for Students – Diễn dịch Giêsu D. Casey, G. Hall & A. Hunt (chủ biên), Cơ sở của đức tin Kitô giáo: Một giới thiệu cho sinh viên (Southbank Vic: Social Science Press, 2004), Ch. 2, trang 15-26.

Thomas Rausch, Who Is Jesus? An Introduction to ChristologyChúa Giêsu là ai? Giới thiệu về Kitô học (Collegeville, Minnesota: Liturgical Press, 2003), Chương 7-8, trang 111-146.

Còn tiếp…

Phần 5: Chúa Giêsu trong Lich sử và Truyền thống

Phần 6: Chúa Giêsu của ngày hôm nay

Phần 7: Kết Luận